Long Hoa Trẩy Hội - Quyển 1

Long Hoa Trẩy Hội - Quyển 1

  LỜI THƯA

        Ba tạng kinh Phật mênh mông như biển, không hề có Kinh Long Hoa.

        Nói cách khác: Kinh Long Hoa bàng bạc trong các loại kinh khác, ở trong bất cứ bộ kinh nào, với một chút tinh ý, chúng ta đều có thể tìm thấy Kinh Long Hoa bắt gặp diệu nghĩa của Kinh Long Hoa.

        Trên mặt “bằng cứ ngôn ngữ” mà nói, Kinh Long Hoa chỉ có một lời tuyên hứa của đức Phật, đối trước khát vọng tìm cầu, nương tựa của quần chúng. Rằng: ba ngàn năm sau “khi Đức Thế Tôn nhập niết bàn”. Sẽ có một vị Phật kế thừa ra đời! Phật Di Lặc. Và ngài sẽ chủ trì một “thắng hội”: thắng hội Long Hoa- để tiếp tục cứu độ cho chúng sanh, đang lặn ngụp trong sông mê bể khổ.

        Nhưng như trên đã nói: tuy trong ba tạng kinh Phật mênh mông như biển, không hề có riêng một kinh nào tên gọi Long Hoa, song tinh thần Long Hoa, giáo nghĩa Long Hoa, Thắng Hội Long Hoa lại bàng bạc trong từng chữ từng câu trong hằng hà sa số chữ, câu của ba tạng kinh điển.

        Thêm một điều nữa: bản thân Đức Đương Lai Phật, kế thừa Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, lại, trong suốt “hạn kì chính thống” ba ngàn năm đó, vẫn tùy duyên thị hiện, nơi này nơi khác, thời này thời khác- không ngoài mục đích: ứng cho người hô, mở cho người gõ.

        Điều đặc biệt là: trong suốt bao lần thị hiện, Đức Đương Lai Tôn Phật luôn mang danh tính khác, có thể là Phật Hoàng Trần Nhân Tông, có thể là quân sư Gia Cát Lượng. Riêng về trường hợp của quân sư Gia Cát Lượng, chúng ta có thể ghi nhận nơi trường hợp của ngài một số nét đặc thù.

        Thứ nhất, ngài là tác giả bộ Khổng Minh Thần Toán, mà nội dung, ngoài giá trị văn chương siêu tuyệt, giá trị thần toán cũng siêu tuyệt, thì sau rốt, và trân quý nhất là giá trị giáo nghĩa lại càng siêu tuyệt. Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy trong phần giáo nghĩa của bộ “Thần Toán” nói trên, những gì rất, rất giáo nghĩa Long Hoa. Vì sao thế?

        Nên nhớ rằng: sự thị hiện cứu thế của Đức Phật Di Lặc, chính là sự thị hiện của tinh thần Dung Nhiếp: Dung Nhiếp Nhất và Nhị, Tâm và Vật, Lý và Cơ.

        Mà tất cả những điều này ta lại đồng thời có thể tìm thấy trong Khổng Minh Thần Toán, tác phẩm Thơ Ca, tác phẩm Dịch Lý, tác phẩm Đạo “thiền đạo” của Khổng Minh.

        Cho nên, rất có lý mà truyền thuyết cho rằng Khổng Minh là một trong những hiện thân của Đức Phật Di Lặc, Long Hoa Giáo Chủ vậy.

        Nói đến diệu nghĩa của Long Hoa thì nói sao cho hết.

        Nên xin tạm dừng lời.

 

Cẩn bút

Huỳnh Uy Dũng

 

LONG HOA TRẨY HỘI

(Giờ tý mồng 02 tháng 11 năm 2009)

 

Lời thọ ký đương lai Di Lặc

Của Thế Tôn tịch mặc năng nhân

Mở đường nhân loại vong thân

Mai sau hoa cỏ long vân gặp thời

 

Bởi nghiệp chướng đời người sâu nặng

Gốc vô minh muối mặn gừng cay

Bao đời ngã chấp* bủa vây

Con tằm dệt kén trói ngay phận mình

 

Thế Tôn rõ phàm tình như thế

Nên có lời thọ ký đương lai (10)

Ý rằng trong cõi trần ai

Dẫu nhân sinh chịu rạc rài trầm luân

 

Nhưng trong cõi nhất chân pháp giới

Đức Từ Bi vời vợi Thung Huyên*

Với Từ Tâm của mẹ hiền

Tam Thế Phật* há dễ quên con mình

 

Nên, trong khoảng ba nghìn năm một

Hoa Ưu Đàm* nở, suốt xưa sau

Mỗi lần hoa nở vô ưu

Là mỗi lần có nhiệm mầu đản sinh (20)

*Ngã chấp : Ngã: Ta, tiếng tự xưng. Chấp: cầm giữ, cố chấp.

Ngã chấp là cố chấp cái ta của mình, cố chấp vào cái thân thể của mình.

Ngã chấp là nguồn gốc của phiền não. Người giác ngộ, không chấp vào cái ta nữa thì được an vui.

 

*Thung huyên : Thung: cây thung, còn đọc là Xuân: cây xuân. Cây Thung hay cây Xuân là loại cây to sống lâu năm, nên được ví với người cha vì con cái muốn cho cha sống lâu.

Thung chỉ người cha.Huyên, chỉ người mẹ.Thung huyên là chỉ cha mẹ.

 

*Tam thế Phật: Nghĩa là Phật của ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai, chỉ ba vị Ca-diếp, Thích-ca Mâu-nivà Bồ Tát Di-lặc(sa. maitreya), Phật tương lai. Có khi tranh tượng trình bày Phật Nhiên Đăng(Nhiên Đăng Thượng Cổ Phật) là Phật quá khứ.

 

Như cận đại, sử kinh đã chép

Có Thế Tôn họ Thích ra đời

Như Lai thường trụ tót vời

Pháp thân thị hiện ba ngôi rỡ ràng

 

Một, Phật bảo:thân vàng của Phật

Thích Ca Mâu Ni rất hiện sinh

Rõ ràng trong sử trong kinh

Con vua Tịnh Phạn, ngự thành Tỳ La

 

Và Hoàng Hậu Ma Da tôn quý

Với “tên đời” là Sĩ Đạt Ta (30)

Ấy là Phật bảo nguy nga

Hiện thân lịch sử - cũng là báo thân

 

Nguyên Phật có ba thân tất cả

Ngoài báo thân như đã nói trên

Còn thân ứng, Hóatùy duyên

Hóa thân vô lượng, vô biên, vô cùng

 

Mục đích để tựu trung cứu thế

Giúp chúng sinh vượt bể trầm luân

Vươn lên cõi Đạo Toàn Chân

Đại Niết Bàn! Ấy cõi Tâm Chính Mình (40)

 

Ngoài ứng Hóa chí linh chí diệu

Còn pháp ThânTịch Chiếu* như như

Ấy là Phật tánh vô dư

Bất Sanh Bất Diệt: Đại Từ Đại Bi

*Hoa Ưu Đàm : Ưu Đàm, Phạn ngữ là Udumbara, phiên âm thành Ưu đàm ba la, Ô đàm bát la, Uất đàm v.v… Hoa Ưu đàm có tên Ưu đàm bát hoa, gọi tắt là Đàm hoa, dịch nghĩa là Linh thụy hoa, Thụy ứng hoa, Không khởi hoa.

Theo kinh điển Phật giáo, Ưu Đàm là một loại cây thiêng (linh thọ), Hoa Ưu Đàm nở là một điềm lành báo hiệu Đức Phật ra đời hay Bậc Luân Vương xuất thế. “Ưu đàm là loại hoa thiêng, ba ngàn năm mới nở một lần, mỗi lần hoa nở thì có Đức Phật ra đời” (Pháp Hoa văn cú). Do vậy, Hoa Ưu Đàm thường được làm ảnh dụ cho sự kiện xuất thế của Đức Thế Tôn trong văn học Phật giáo.

Như đã nói trên kia Tam Bảo

Một là, ngôi Phật bảo Thích Ca

Hai là, pháp bảo Ma Ha

Chí tôn vô thượng pháp mà vô vi

 

Ba là: Đà La Ni* Tăng bảo

Tổng trì vô thượng đạo Tâm Kinh (50)

Ba ngôi bảo cõi nhân sinh

Đảm đương sứ mạng quang vinh tót vời

 

Ấy sứ mạng cứu đời thoát khổ

Bằng con đường giác ngộ chân tâm

Vượt qua hệ lụy mê lầm

Từ vô thủy, luống sanh cầm thiên lương

 

Khiến trải bấy tai ương hoạn nạn

Khiến trải bao vận hạn trầm kha

Trải bao hoặc chướng sa đà

Trải bao hoặc chướng lê la rạc rài (60)

 

Lòng cha mẹ thương hoài thương hủy

Như biển Đông thủ thỉ đầy vơi       

Chư Phật thương yêu loài người

Khác chi cha mẹ ba đời thương con

 

Nhưng, cha mẹ thương, còn có hạn

Chư Phật thương: chữ vạn tròn vuông

Nhớ lời Địa Tạng Thế Tôn

“Ta không vào địa ngục môn! Ai vào?”

*Tịch chiếu: Nghĩa là vắng lặng (tịch) và chiếu soi (chiếu). bản thể của trí là rỗng lặng, có tác dụng chiếu soi, tức là đương thể của tọa thiền chỉ quán.

*Đà La Ni: Cũng gọi là Đà Lân Ni. Dịch là tổng trì, năng trì, năng già. Tức là sức trí tuệ có thể tóm thu, gìn giữ vô lượng Phật pháp không thể quên mất.

Nói cách khác, Đà La Ni là một thuật ghi nhớ.

Ví còn một kẻ nào chưa Phật

Tức là ta chưa thật là ta (70)

Vì chưng một tức hai mà

Một là hai, một là ba- vô cùng…

 

Vì vạn hữu vốn đồng nhất thể

Phật, chúng sanh vốn dĩ không hai

Còn mê thì gọi trần ai

Tỉnh rồi thì gọi Như Lai -vốn là

 

Dẫu vô lượng hằng sa thế kiếp

Mãi luân hồi cái nghiệp vô minh

Cho Vô Tình hóa Hữu Tình

Cho Vô Sinh hóa Tam Sinh*- đoạn trường! (80)

 

Nhưng Bản Thể vốn Thường như thế

Ấy gọi rằng Nhị Đế dung thông

Sắc kia tức thị là không

Nhị kia tức thị là Đồng: Như như!

 

Phật với chúng sanh như có khác

Nhưng lại chung gốc gác Tánh không!

Mà trong Không Tánh mênh mông

Lại gom Tứ Đức, Lục Thông, Tam Thừa!*

 

Điều cốt tủy là từ Bản Thể

Đã hàm tàng lòng mẹ bao la (90)

Hàm tàng Tình Mẹ Tình Cha

Đức Từ Bi Hỷ Xả là Bản Nhiên

 

*Tổng trì: Là sức niệm trí tuệ có khả năng thâu tóm, ghi nhớ vô lượng Phật pháp, không để quên mất. có 4 thứ tổng trì: pháp tổng trì, nghĩa tổng trì, chú tổng trì và nhẫn tổng trì.

Từ tâm ấy, một phen Thức Tỉnh

Một khi tìm ra chính bản nhiên

Thì bèn hiển lộ toàn chân

Long lanh minh nguyệt bạch Vân -thơ đề

 

Khác chi bửu châu kia Như Ý

Sẵn hàm tàng như thị trong ta

Phận hèn cùng tử lê la

Chi hay ta chính đại gia phú hào (100)

 

Châu Như Ýgiá cao vô thượng

Sánh ngang cùng vô lượng vô biên

Nghĩa là bằng trọn tam thiên

Ấy châu pháp giới: Ấy viên chân này

 

Ấy Thực Tướng xưa nay các pháp

Cũng đồng thời là Giác Tánh kia

Bửu châu Như Ý Ma Ni

Chở chuyên vạn Đức xum xuê tự hằng

 

Thể hiện Tính Năng Nhân Tịch Mặc

Bởi vì chưng Tịch Mặc - nên năng (110)

Khi tâm tròn trịa vừng trăng

Trong Niềm Tịch Mặc – thì rằm lên ngôi

 

*Vô minh:  là không sáng suốt, tức là còn mê muội, tối tăm, không thấy được cái lẽ thật của sự vật.

*Vô sinh: Tất cả các pháp tồn tại đều không có thực thể, là không, cho nên không có sinh diệt biến hóa. Nói theo quan điểm Niết Bàn không sinh diệt, thì vô sinh tức chỉ cho giác ngộ Niết Bàn, cũng tức là chứng được vô sinh

*Tam sinh: Chỉ cho Tiền sinh, Kim sinh, Hậu sinh

Tiền sinh:  cũng gọi (Tiền Thế, Túc Thế): đời sống ở quá khứ

Kim sinh:  cũng gọi (Hiện thế, Hiện sinh): đời sống ở hiện tại

Hậu sinh: cũng gọi (Hậu thế, Lai thế, Lai sinh): đời sống trong vị lai

Và ánh sáng tỏa mười phương Phật

Vô Lượng Quang diệu mật Di Đà

Cũng là Vô Lượng Thọ mà

Vô Lượng Quang, Thọ: Phật Đà Tây Thiên

 

Cõi Cực Lạc như nhiên Thế Giới

Nghĩa là Tâm về tới Bản lai

Để mà thể hiện Như Lai

Không đi không lại không ngoài không trong (120)

 

Vốn tự thể, thong dong Tự Tại

Bền long lanh Vô Ngại Đại Bi

Tuyệt vời Tâm Đà La Ni

Một Tâm Thanh Tịnh Tổng Trì Tam Thiên

 

Từ nơi Lý uyên nguyên như thế

Mà sinh thành thọ ký Như Lai

Phật rằng trong buổi đương lai

Ba ngàn năm giữa trần ai ta bà

 

Sẽ có một Long Hoa Thắng Hội

Đem lại niềm cứu rỗi thế gian (130)

Để cho, trên cái Điêu Tàn

Của tâm – ý – thức ba ngàn đại thiên

(Dật vờ mộng tưởng đảo điên

Loanh quanh tam nghiệp* triền miên nhất thời )

 

*Lục thông: Lục: Sáu, thứ sáu. Thông: sáng suốt biết rõ.

1. Thiên nhãn thông: thấy mọi vật trong vũ trụ.

2. Thiên nhĩ thông: nghe mọi tiếng nói khắp nơi.

3. Túc mạng thông: biết chuyện đời trước của mình và của người, biết luôn cả đời nầy với đời sau.

4. Tha tâm thông: đoán biết trong tâm của người khác.

5. Thần túc thông: phép đi khắp nơi trong nháy mắt, phép biến hóa chi tùy ý.

6. Lậu tận thông: phép trong sạch hoàn toàn, nhà đạo dứt hết các tríu mến, chấp trước, không còn chấp pháp, không còn chấp ngã.

Tam thừa: Tam: Ba, số 3, thứ ba. Thừa: bực, còn đọc là Thặng: cỗ xe.* Tam thừa nghĩa là ba bực tu, hay là ba cỗ xe, kể ra: Tiểu thừa, Trung thừa, và Đại thừa.

Mà khởi dựng một Đời Tân Tạo

Mà cư dân nương Đạo Vô Vi

Vượt ngoài hai lẽ thị, phi

Một Tâm Dung Nhiếp một khi viên thành

 

Để vào cõi long lanh nhật nguyệt

Cõi bất sanh bất diệt – Như Như (140)

Cõi đại bi, cõi đại từ

Cõi vô lậu, cõi vô dư – Niết Bàn

 

Cõi Bát Bất huy hoàng Không Tướng

Trở về Tâm Vô Lượng phong nhiêu

Bất sanh bất diệt - tiêu diêu

Bất thường bất đoạn – bốn chiều vô cương

 

Bất nhất, Bất nhị – Đương Lai Phật

Là hiện thân nhị bất nói trên

Long Hoa Thắng Hội nhất nguyên

Dung thông nhất nhị qui nguyên Niết Bàn (150)

 

Vì không Một nên Đang là đẹp

Diệu ngã này nhất tuyệt Càn Khôn

Cái Ta Diệu Ngã kim cương

Long lanh Tịch Chiếu mười phương nhiệm mầu

 

Tứ đức: Tứ: Bốn, thứ tư. Đức: đức tánh.

Tứ đức là bốn đức tánh của người phụ nữ.

Tứ đức gồm: Công, Dung, Ngôn, Hạnh.

*Tam thiên

Gọi đủ: Tam thiên pháp, Tam thiên pháp môn, Tam thiên thế gian, Tam thiên chư pháp. Tức là từ chỉ chung tất cả muôn pháp.

*Tam Nghiệp: Tam:Ba, số 3, thứ ba. Nghiep: con đường đi từ Nhân tới Quả. Nếu kiếp trước mình làm điều lành thì tạo được nghiệp lành. Cái nghiệp lành nầy nó theo ủng hộ mình trong kiếp nầy, làm cho mình được may mắn, hạnh phúc.

Tam nghiệp là ba cái nghiệp do Thân, Khẩu, Ý tạo ra.

Tam nghiệp gồm: Thân nghiệp, Khẩu nghiệp, Ý nghiệp.

Thân nghiệplà cái nghiệp do thân thể, tay chơn tạo ra.

Khẩu nghiệplà cái nghiệp do lời nói nơi miệng tạo ra.

Ý nghiệplà cái nghiệp do ý kiến, tư tưởng tạo ra.

Vì không Hai nên đâu Tách Biệt

Tự và Tha nhất thiết là nhau

Tam Thiên Đồng thể nhiệm mầu

Như Lai Tạng* Tánh đẹp câu tương đồng

 

Vừa là Một, vừa không là Một

Vừa là Hai, vừa chẳng là Hai (160)

Ấy rằng Tâm thể Như Lai

Ấy rằng Di Lặc Đương Lai hiện tiền

 

Buổi mạt pháp đảo điên vọng tưởng

Thức mạt na* ám chướng tâm linh

Chấp phi chấp thị linh tinh

Chấp thường chấp đoạn, chấp kinh chấp quyền

 

Chấp! Chấp! Chấp, triền miên nỗi chấp

Chấp sạch dơ, giả thật, đúng sai

Chấp phương Đông, chấp phương Đoài

Chấp ngã, chấp pháp, rạc rài thế nhân (170)

 

Vì chấp thủ lần khân* như thế

Mà nhân sinh hóa bể dâu này

Với bao Hoặc Chướng sâu dày

Kéo theo bao Nghiệp Chướng đầy oan khiên

 

Với bao Khổ Chướng triền phược* mãi

Bát khổ* kia bại hoại thân người

Sinh lão bệnh tửrã rời

Sẵn mang tiếng khóc chào đời đúng không?

*Như Lai Tạng : Chỉ cho pháp thân Như Lai xưa nay vốn thanh tịnh, ẩn tàng trong thân phiền não của hết thảy chúng sinh, nhưng không bị phiền não làm ô nhiễm, bản tính vẫn tuyệt đối thanh tịnh và vĩnh viễn bất biến.

*Thức Mạt Na: Mạt na thức còn có nhiều tên gọi khác : thức thứ 7, Ỳ căn, Truyền Tống thức . Công năng củaMạt na thức là suy xét, so đo, chấp trước, phân biệt : phân biệt có "cái ta" , cái Tôi , nghĩa là bảo thủ cho "cái ngã, cái Tôi" của mình . Ngoài ra, thức này vừa có công năng truyền các điều mắt thấy, tai nghe, mũi ngữi…vào A lại da thức , vừa tống các chủng tử ở trong A lai da thức khởi ra hiện hành  .

Những nước mắt đoanh tròng từ thuở

Mới lọt lòng mẹ của hài nhi  (180)

Rồi theo mãi bước người đi

Trăm năm bạc mệnh dễ khi nào rời!

 

Sinhđã khổ tả tơi. Còn Lão?

Cái già nua ảo não lắm thay!

Lại còn cái Bệnh thày lay!

Có ai thấy bệnh là “hay” bao giờ!

 

Rồi cái Tử: khéo đùa nhau nhỉ!

Con số không khéo xí xóa nhau!

Mới vừa muôn sắc vạn màu

Mới vừa trăm sướng ngàn đau, Mới vừa… (190)

 

Xoẹt một cái! Đang tờ giấy chữ

Thoạt trở thành bĩ thử giai không

Một vỡ tuồng khá lông bông

Một trò đùa khá não nùng trêu ngươi

 

Rõ là một trận - cười- nước mắt

Cười bao nhiêu ruột thắt bấy nhiêu

Dật vờ ghét ghét yêu yêu

Hạt sương sớm, hạt sương chiều, hạt sương…

*Lần Khân:  Kéo dài thời gian để dây dưa

*Triền Phược: Sự trói buộc, tức chỉ cho phiền não, được chia ra chung và riêng. Chung thì chỉ cho tất cả phiền não cột chặt chúng sinh vào vòng sinh tử trong ba cõi. Còn riêng thì triền có ba triền, tám triền, mười triền,cho đến 500 triền…; phược có 3 phược, 4 phược…

 

*Bát Khổ:

1. Sanh khổ: Nỗi khổ do sự sanh

2. Già khổ (Lão khổ): khổ do tuổi già

3. Bệnh khổ: Nỗi khổ khi mắc phải bệnh tật

4. Chết khổ (Tử khổ): Khổ vì đau đớn khi thời khắc phải chết đến, tức là nỗi khổ khi Tứ đại trong thân phân ly

5. Khổ vì thương yêu chia lìa (Ái biệt ly khổ): Khổ vì phải chia lìa người thân hay vật mình yêu thích, nên sanh tâm đau buồn luyến tiếc mà chìm đắm trong khổ não.

6. Khổ vì oán thù gặp gỡ (Oán tắng hội khổ): Khổ khi thù ghét nhau, khó chịu với nhau mà phải ở chung, ở gần, phải chịu đựng nhau.

7. Khổ vì mong cầu không được (Cầu bất đắc khổ): Khổ khi mong cầu một điều gì đó mà không toại ý nên sanh tâm buồn bực, khổ não, đau buồn.

8. Khổ vì ngũ uan nung nấu (Ngũ ấm xí thạnh khổ): khổ vì ngũ ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức" nung nấu chống trái nhau trong thân tâm, làm ta chịu các loại phiền não và khổ đau.

“Ái Biệt Ly”– nỗi thương nào khổ!

Thương mà xa … nên nhớ tương tư (200)

Một ngày mà tựa ba thu

Thương ba thu chẳng gặp… như chết rồi!

 

Nỗi khắc khoải đơn côi chiếc bóng

Một nửa hồn tôi bỗng… tiêu tan

Não nề chim Việt cành Nam

Ngựa Hồ gió Bắc ngổn ngang tấc lòng

 

“Oán Tắng Hội khổ”không kia chứ?

Ghét thấy mồ, mà cứ phải gần

Chao ôi! Cái mặt “chần dần”

Một lời là một điệu vần khó nghe (210)

 

Ghét tới nỗi muốn che đôi mắt

Bít tới tai thật chặt như nêm

Để khỏi nghe, để khỏi nhìn

Cái “đồ bảng mặt” nhãn tiền oan gia!

 

Cầu bất đắc” muốn mà không được!

Trăm mối tham ô trược trên đời

Tham ăn, tham ngủ, tham chơi

Tham danh, tham lợi, trời ơi! tham tàn!

 

Cái lòng tham bộn bàng như thế

Dẫu cao non rộng bể khôn tày (220)

Lời thường tục nói xưa nay

Lòng tham không đáy”! thày lay phận người

 

Bảy cái khổ, hành đời chưa đủ

Lại còn thêm cái khổ cuối cùng

Khổ này ác liệt quá chừng:

Ngũ Ấm Xí Thịnh”* phừng phừng lửa tâm!

 

Nguyên Ngũ ấm thậm thâm tai quái

Chánh phạm trong cõi ái dục này

Sắc, Thọ, Tưởngquá dạn dầy

Gây oan rắc nghiệt đọa đày chúng sinh (230)

 

Sắc ấy từ Vô Minh mà có

Sắc Trần thì có Lục Căn*

Lục Căn tương ứng Lục Trần*

Tạo duyên cho thọ tưởng tần mần chơi

 

Hễ có thọ ắt thời có Tưởng

Hễ có Hành, Thức luống theo sau

Thứckia, một nhập vào sâu

Ắt thành sinh mệnh dài lâu bao đời

 

Sinh thể ấy ngự nơi Tâm thức*

Ấy gọi là Tạng thức* Tâm vương (240)

“Ma đưa lối, quỷ đưa đường

Để tìm những lối đoạn trường mà đi”

 

*Ngũ Ấm Xí Thịnh:

Các nỗi khổ não bốc cháy mạnh mẽ do có đủ năm ấm, cũng tức là trong năm ấm đầy dẫy khổ não. Một trong tám khổ. Chẳng hạn như: sinh, già, bệnh, chết, lo âu sầu não,oán ghét gặp gỡ, thương yêu phải xa lìa, những điều mong cầu không đạt được…. đều là khổ cả.

*Lục Căn:

Nhãn: cái biết của mắt do nhìn thấy, nhĩ: cái biết của tai do sự nghe, tỹ: cái biết của mũi do sự ngữi, thiệt: cái biết của lưỡi do sự nếm, thân: cái biết của da thịt do đụng chạm, ý: cái biết của tư tưởng do trí não.

*Lục Trần:

Sắc: cảnh vật có màu sắc xinh đẹp, thinh: âm thanh êm ái, lời nói ngọt ngào, hương: mùi thơm của hoa, của món ăn, vị: thức ăn ngon béo bổ, xúc: trang sức lụa là, da thịt mát mẻ, pháp: tư tưởng mưu tính thực hiện cho thỏa ý.

 

*Tâm Thức:  Đôi khi được gọi tắt là tâm, là từ chỉ chung cho các khía cạnh của trí tuệý thức, thể hiện trong các kết hợp của tư duy, tri giác, trí nhớ, cảm xúc, ý muốn, và trí tưởng tượng; tâm thức là dòng ý thức. Nó bao gồm tất cả các quá trình có ý thức của bộ não. Đôi khi, trong một số ngữ cảnh, nghĩa của từ tâm thức còn bao hàm hoạt động của tiềm thức con người.

Trạng huấn ấy một khi gia trọng

Ấy gọi rằng “Ngũ Ấm phừng lên

Ngũ Ấm Xí thịnh” ấy tên

Nó là chánh phạm gây nên tội tình

 

Do ngũ ấm, Vô Minh mới lộng

Do vô minh ngũ ấm mới lừng

Năm con ngựa chứng tưng bừng

Hất tung kỵ sĩ ngập ngừng dây cương (250)

 

Ấy, Bát Khổ tai ương nó thế

Đày đọa người xiết kẻ trầm luân

Gẫm xa hệ lụy hồng trần

Cũng do ngũ uẩn làm nhân mà thành

 

Trong ngũ uẩn, uẩn sanh sự nhất

Cuối cùng là uẩn Thức-mạt na

Thức này, chấp thủ sâu xa

Chấp ngã, chấp pháp- sa đà vọng tâm*

 

Bởi có chấp nên thân mới có

Hết chấp thì thân nọ còn thân (260)

Có thân nên có tham, sân

Ái, Ố, Hỷ, Nộ… trói chân vạn đời

 

*Tạng Thức:

Tạng thức (còn gọi là A-lại-da thức). Là một khái niệm quan trọng của Duy thức tông, một trong hai nhánh chính của Phật giáoĐại thừa. Trong trường phái này, A-lại-da thức bao gồm 7 thức là Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức, Ý thức, Mạt na thức nên được xem là thức căn bản của mọi hiện tượng, nên còn gọi là Hàm tàng thức. Thức này chứa đựng mọi sư trải nghiệm của đời sống mỗi con người và nguồn gốc tất cả các hiện tượng tinh thần.

*Vọng tâm:

Chỉ cho tâm hư vọng phân biệt. tức là tâm tạp nhiễm hư giả, sinh diệt chuyển biến. Tức chỉ vọng thức thường sinh khởi nghiệp thiện ác.

Và mới có phận người bi thống

Mộng, huyễn, bào, ảnh… giống như…. hoa

Hạt sương trôi nổi ái hà*

Rong rêu, củi mục lê la… rạc rài

 

Thương lắm lắm bi hài kịch bản

Có mà không… cục thảm hư vô

Giấc Hoàng Lương khéo ngây ngô

Đền vàng, lọng tía; Nắm mồ cáo chung! (270)

 

Sắc, Thọ, Tưởng… vốn không dễ trị

Chúng vốn là “như thị bản năng”

Cái trần duyên nọ cái căn

Một hô một ứng, dung dăng*miệt mài

 

Hễ đã có hình hài ắt có

Lục Căn kia gắn bó thân này

Chém cha ngũ uẩn thày lay

Nương lục căn này lộng giả thành chân

 

Đương Lai Phật ứng thân giáng thế

Nhân duyên này há dễ linh tinh (280)

Nghìn trân trọng chớ coi khinh

Ba ngàn năm mới đản sinh một lần

 

Hoa Ưu Đàm nhất chân pháp giới

Nụ vô sinh pháp hội Long Hoa

Từ cung Đâu Suất nghìn xa

Giáng sinh Di Lặc một tòa Đương Lai

*Ái hà:

Sông yêu. Còn gọi là tình thiên dục hải(tình trời dục biển). Ái dục làm người chìm đắm nên dùng sông để thí dụ. ngoài ra, tâm tham ái, nắm chặt vật mà không rời, cũng như nước thấm vào vật, nên cũng dùng nước sông để ví dụ ái dục.

*Dung dăng:

 Nắm tay nhau đung đưa theo nhịp bước đi.

Với Pháp Thể khoan thai hoan hỉ

Nụ cười vui Du Hí thần thông

Một vòng “bụng bễ” mênh mông

Khéo dung nhiếp của Tây Đông ba đời! (290)

 

Dung nhiếp cả đất trời tâm vật

Bất nhị trong bất nhất như như!

Nụ cười như thị vô dư *

Thong dong tự tại đại từ đại bi

 

Với đôi mắt một khi tủm tỉm

Bên nụ cười chúm chím một khi

Một khi nhàn tản vô vi *

Mặc cho Lục Tặc làm chi thì làm

 

Mặc sắc tặc chọc quàng lên mắt

ThanhTặc thò tay chọc vào tai (300)

Hương, vị, xúc…tặc “giở bài”

Phật Di Lặc vẫn Như Lai tự thiền

Ấy bởi tại “vô duyên diệu pháp

Căn chẳng còn tương tác với trần

Sắckia dẫu có sắc thân

Vẫn như như chẳng thọ trần: vô vi

 

Vô vi ấy chẳng chi phải thọ!

Tâm như nhưnên có mà không!

Sắckia chẳng vọng tơ đồng

Thọ mà chẳng Thọ ắt không Tưởng, Hành!(310)

*Vô dư: (gọi đủ là vô dư y)

Không sót lại, không còn lại. nghĩa là đã hoàn toàn đạt đến cùng tận, không còn sót lại chút gì.

*Vô vi:

Nghĩa là không tạo tác, tức chẳng phải do nhân duyên tạo ra, là pháp tuyệt đối thường trụ, lìa sinh diệt biến hóa. Vốn là tên khác của Niết Bàn.

Như thế: một chu trình ngũ uẩn

Sẽ không còn lấn bấn hành nhân

Để không còn nỗi vong thân

Sắc, Thọ, Tưởng nó vần xoay ta!

 

Không Sắc, Thọ…ấy là Di Lặc

Là Đương Lai Bồ Tát ứng thân

Là hoa Linh Thoại toàn chân

Ba nghìn năm lại một lần khai hoa

 

Phật pháp vốn sâu xa vô lượng

Những điều tinh yếu vốn đơn sơ  (320)

Một Tâm Thức lặng đường tơ

Một Tâm Thức đẹp vần thơ định thiền

 

Một Tâm Thức vô duyên vô ngại

Không phan duyên, mỗi tự tại mình

Không tâmsở, chẳng duyên sinh

Một Tâm Thức tuyệt Lặng Thinh Như Là

 

Ấy Tâm Thức Long Hoa thắng hội

Lấy tâm không rốt tới thắng mà

Dựng thành thắng hội Long Hoa

Lấy Vô Duyên Diệu pháp mà khai nguyên (330)

 

Để xóa cái Nhân Duyên Thập Nhị

Cho chúng sinh Du Hí vô sanh

Tâm không- vô tưởng, vô hành

Hỏi còn chi có chúng sanh ta bà?

 

Cõi Kham Nhẫn chưng mà hiện hữu

Cũng vì tâm mắc mứu nhân duyên

Một khi thức dứt phan duyên

Chân tâmhiện lộ hiện tiền quang huy

 

Phật dạy: “nhất thiết duy tâm tạo

Một khi tâm thấu đáo từ tâm (340)

Cả và Nhẫn Độ trầm luân

Hóa ngay thành cõi hương trầm Long Hoa

 

Trong cõi đó Phật Đà Di Lặc

Nở nụ cười tuếch toác hài nhi

Sạch làu hoặc chướng sở chi

Sở chi dứt bặt, còn chi não phiền

 

Phiền não chướng một phen dứt bặt

Phàm nhân bèn Tịch Mặc Năng Nhân

Chứng ngay tự tánh thần thông

Một phen Thiên Lý Nhãn không biên thùy (350)

 

Lại Thiên Lý Nhĩ: nghe cùng khắp

Cả mười phương réo rắt thanh âm

Lại Thần Túc vượt tinh vân

Một niệm thôi, đủ ứng thân ba nghìn

 

Lại Tha Tâm Thông: nhìn thấu đáo

Tâm chúng sanh rốt ráo tư duy

Lại Túc Mạng Thông diệu kỳ

Suốt soi nẻo bước đường đi ta, người

 

Sau rốt và tuyệt vời vô thượng

Lậu Tận Thông! Tướng Niết Bàn(360)

Một khi tâm lọc tuổi vàng

Bao nhiêu bợn cặn ngổn ngang bao đời

 

Thảy đều sạch làu nơi Tạng Thức

Khiến bản lai diện mục* tròn gương

Mịt mờ Tam Chướng mù sương

Một khi Lậu Tận, mười phương tỏ rằm

 

Long Hoa Thắng Hội chăng là thế

Là suốt thông nhị đế tam thừa

Một phen quản lý xuyến cơ*

Viên dung nhất, nhị khẳm vừa Long Hoa(370)

 

Một tâm thế thiền Na đã chuyển

Dứt phan duyên-bất biến vô vi

Ngưng hành ngũ uẩn một khi

Tam đồ, Lục đạo*lấy chi hiện tiền

 

Kinh Phật nói ba nghìn năm nọ

Giữa ba nghìn chẳng có Vô Ưu?

Nhưng Long Hoa Hội từ đâu?

Chính từ tâm thế nhiệm mầu đó thôi!

 

Một tâm thế vượt ngoài sinh tử

Ngoài lao lung của Ngũ Ấm ma(380)

Ngoài cương tỏa Thức Mạt Na

Một tâm thế Định Thiền Na tót vời

 

*Bản lai diện mục.Bổn: Gốc, ý nói lúc đầu. Lai: Tới, ý nói lúc sau nầy.

Bổn lai là xưa nay, từ lúc đầu đến nay.

Diện: Cái mặt. Mục: Con mắt. Diện mục là mặt mày.

Bổn lai diện mục là mặt mày xưa nay, tức là cái mặt có từ vô thỉ đến nay, là khuôn mặt muôn đời của mình.

*Lục Đạo(chỉ Lục đạo luân hồi) Lục: Lục đạo luân hồi gồm:Thiên (tiên), ATu-La (thần), Nhân (người), Địa ngục

Ngạ quỷ (ma đói), Súc sanh (thú vật).

 

Một tâm thế *Nụ Cười Dung Nhiếp

Vượt lên trên cái biết thế gian

Cái Tư Duy cái luận bàn

Cái So Sánh, cái Tính Toan, Đo Lường

 

Vượt lên cái biên cương Ý Thức

Với chức năng rất mực phan duyên*

Tương ứng đối tượng hiện tiền

Trầnkia, Căn nọ…triền miên vạn đời(390)

 

Trầncó hô, căn thời có ứng

Vậy sinh thành nghiệp chủng đa đoan

Khác chi mây nọ che ngang

Khiến cho trăng nọ dở dang phận rằm

 

Chúng sinh: vốn khác chăng tánh Phật

Hay là cùng diệu mật ba la

Như Thiên, Địa khác chăng là

Như Phàm Thánh: phải chăng mà nhị nguyên

 

Hay vạn hữu vốn uyên nguyên một

Thảy uyên nguyên cùng tột như như (400)

Chẳng chi thiếu, chẳng chi

Chẳng chi thực, chẳng chi - diệu thường

 

 

 

 

*Tam đồ: Ba đường. chỉ cho hỏa đồ (đường lửa), đao đồ (đường đao), và huyết đồ (đường máu), đồng nghĩa với tam ác đạo là địa ngục, ngã quỷ, súc sanh, là những nơi do các nghiệp của thân, khẩu, ý dẫn đến.

*Xuyến cơ: quán xuyến hai điều.Thấu lý-tình: khấu cơ, cơ hội.

*Tâm thế: là tâm -> từng thế một xoay chuyển được như thế võ

*Phan duyên:dính líu. Phan: kéo lại, leo trèo, vịnh theo.

Phan duyên có nghĩa là tâm bám dính vào một đối tượng nào đó.

Bởi chẳng Đoạn, chẳng Thường như thế

Nên Tam Thừa, Nhị Đế vân… vân…

Chẳng qua những bước phù vân

Thực thì có Dị, nhưng tâm vốn Đồng

 

Xét theo tướng có phân có biệt

Theo tánh thì nhất thiết giai không

Từ nơi không Tánh thong dong

Mà Bồ Đề Tát Đõa công phu mình (410)

 

Để trở lại chính mình “bản thiện”

Tam Ma Đề*Như Huyễn lành thay!

Thức kia vốn tự tâm này

Một tâm ba thức khéo hay nhiệm mầu

 

Hãy nói Thức Ban Đầu Chân Thức

Ấy là tâm chân thực xưa nay

Chân Tâm,Thực Tướng, Thức này

Bản lai diện mụctròn đầy như nhiên

 

Hai Thức Thứ Tám-tên Tạng Thức

Ấy kho tàng rất mực huyền linh (420)

Chở tròn chủng tử ba sinh

Những lục dục những thất tình nhiêu khê

 

Những Năm Mối Tâm kia sở nọ

Những phàm đây thánh đó đan xen

Bao Tăng Kỳ Kiếp bon chen

Để rồi cứu cánh đài sen Phật Đà

 

 

*Tam ma đềcòn gọi là còn gọi là tam ma địa, tam muội, tam ma đế. Chỉ tâm chuyên chú vào một cảnh, xa lìa hôn trầm.

Rồi thức cuối cùng là chuyển thức

Cũng là phân Biệt Thức- ấy là

Những gì Tạng Thức sinh ra

Long đong Lục Thức sa đà Lục Căn (430)

 

Nó dệt lưới bủa giăng nhân thế

Cho cuộc đời nên bể nên dâu

Khéo trêu ngươi Lục Nhĩ Hầu

Vì mi, Hành Giả nan cầu Ngộ Không

 

Chân Thức vốn thông Không Tánh

Chân Thứccùng không tánh không hai

Mỗi vì ngũ uẩn đơn sai

Nên Chân Thức mới xa rời tánh không!

 

Vì sao gọi là Long Hoa Hội?

Ấy là khi thức hội về tâm (440)

Trở thành Trí Tuệ thậm thâm

Ấy là diệu nghĩa Quán Âm nhiệm mầu

 

Ba ngàn năm nhịp cầu chư Phật

Vẫn nối liền diệu mật tâm linh

Chẳng chờ đến buổi “y kinh

Cứ theo “phụ mẫu chi tình” mà thương

 

Mà tiếp tục đảm đương trách vụ

Mãi hóa thân đồng sự lợi hành

Để hóa độ khắp quần sanh

Chẳng cần chờ tới hội lành Long Hoa (450)

 

 

Như đức Đương Lai là Di Lặc

Là Phật là Bồ Tát đương kim

Trong thời gian thọ ký trên

Vẫn, theo truyền thuyết, chẳng “quên” độ đời

 

Nghĩa là vẫn suốt “thời điểm hẹn”

Ba ngàn năm -ứng hiện trần gian

Y theo Tứ Nhiếp Pháp* vàng

Mà cứu, mà giúp vô vàn chúng sinh

 

Như kinh đã thuyết rành Di Lặc

Đóa Ưu Đàm- chẳng bặt sắc hương (460)

Vẫn Thường giữa cõi Vô Thường

Vẫn Trường giữa cõi Đoạn Trường u mê

 

Vẫn ứng hiện “đây, kia” …vô sổ

Lấy “nhân thân” mà độ chúng nhân

Trong bao “ứng kiếp” trên trần

Đã từng là đức vua Trần Nhân Tông

 

Là Hoạt Phật Nam phương một thuở

Đức Tôn sư Điều Ngự Giác Hoàng

Với tâm tịch tĩnh hoàn toàn

Cư Trần Lạc Đạothênh thang bước đời (470)

 

Dẫu vẫn sống giữa nơi Ngũ Trược

Nhưng tâm không vướng một trược nào

Lục trầnvẫn cứ lao xao

Lục cănvẫn kín cổng cao tường bền

 

*Tứ Nhiếp Pháp: Tức là bốn phương pháp lợi tha để nhiếp phục chúng sanh quay về với Phật pháp.

Bốn phương pháp đó là: Bố thí nhiếp, Ái ngữ nhiếp, Lợi hành nhiếp, Đồng sự nhiếp.

Căn “bất động địa” nên ngũ uẩn

Ắt vô phương chuyển vận tiến trình

Sắcsinh, mới có Thọ sinh

Thọ sinh, mới có Tưởng lình xình theo

 

Sắcchẳng ứng theo chiều tương ứng

Thọ, Tưởng, Hành… ắt cũng “êm ru”(480)

Lành thay chí quán công phu

Một phen Giới, Định, Tuệ Tu ứng liền

 

Để thức nọ hoàn nguyên thành trí

Khôi phục về chính vị xưa nay

Một Đại Viện kính trí này

Ấy do Tạng Thức chuyển rày mà nên

 

(A Lại Da Thức: tên Phạn ngữ)

Sau một phen mài dũa công phu

Tuổi vàng, qua lửa Tự Tu

Đã nên: vô lậu, vô dư tinh ròng (490)

 

Kính tríấy gương trong chiếu diệu

Khắp mười phương tịch chiếu như như

Hai, Bình Đẳng Trí vô sư

Viên dung, vô lượng, đại từ, đại bi

 

Thức Thứ Bảy một khi tinh lọc

Một khi tròn gạn đục khơi trong

Một khi “Ngũ Uẩn giai không

Chuyển thẳng Bình Đẳng Trí trong Niết Bàn

 

Ba (tên gọi) Diệu Quan Sát Trí

Trí này từ thức ý thăng hoa (500)

Một phen gạn lọc tinh ba

Thức Ý chuyển, tuyệt vời hoa Ưu Đàm

 

Bốn tên gọi thành Sở Tác Trí

Từ Thức, Nhãn, Nhĩ, Tỷ…thăng hoa

Vượt ngoài hệ lụy trầm kha

Với bao giới hạn thịt da con người

 

Để, như suối ra khơi rộng lớn

Cá hóa rồng, một dướn xanh mây

Trở về chính vị xưa nay

Thoát Ba Chướng Ngại, hiển bày thần thông (510)

 

Ấy, Thấy, suốt cả, không giới hạn

Ấy, Nghe, không giới hạn không thời

Năm thức, tóm lại một lời

Thành Sở Tác Trí tuyệt vời dung thông

 

Để diệu dung suốt không chướng ngại

Thực hiện tròn tự tại đại bi

Cứu đời thoát cảnh mê si

Bước lên cõi Tự Tam Quy tót vời

 

Bốn trí khéo mở đời Thịnh Pháp

Ấy Đương Lai Di Lặc Long Hoa (520)

Tùy duyên ứng hiện gần xa

Khi mà phương Bắc, khi mà phương Nam

 

Như về cõi giang san Đại Việt

Đã từng phen nhật nguyệt quang minh

Ngời ngời tuệ giác Tâm Linh

Ấy đức Di Lặc hóa sinh Giác Hoàng

 

Để thêm một lần trang điểm đạo

Bằng tấm gương thân giáo tuyệt vời

Từ ngôi Cửu Ngũ trên đời

Hội Trần Họp Giác, rong chơi bước thiền (530)

 

Coi Phú Quý lợi quyền như rác

Cửu Ngũ, không bằng bát xin cơm

Giũa mài Tuệ Kiếm Kim Cương

Vung gươm quét sạch mười phương giặc thù

 

Vì Đạo, bỏ ngôi vua, lên núi

Lại vì Đời, xuống núi làm vua

Rong chơi Nhị Đế, Tam Thừa

Đời kia, Đạo nọ, như như tất Thành

 

Một tâm Phật, hóa sanh ức vạn

Cũng từ Như Lai Tạng mà nên (540)

Cầu chi thời đủ “tam thiên”

Từng giây, Di Lặc hiện tiền Long Hoa

 

Vua Trần đó từng là Di Lặc

Cho Thăng Long dìu dặt rồng mây

Một trời Yên Tử hương bay

Năm trăm năm … tỏ mặt mày Thiền Tông

 

Từng trang lệ dung thông Nhị Đế

Tâm thức Di Lặc để ngàn sau

Những vần thơ đẹp hoa lau

Những trang sử đẹp trầu cau Đại Hùng (550)

 

Di Lặc hóa trần trung phổ độ

Bốn phương cùng hiển lộ Long Hoa

Gẫm lời truyền thuyết xa xưa

Ngọa long xưa cũng từ tòa Đương Lai

 

Thời Tam Quốc tam tai bát nạn

Khác chi nơi Vô Gián A Tỳ

Ba vương tranh bá một khi

Ngũ Trược Ác Thế*sân si lộng hành

 

Trước thảm cảnh tranh giành chém giết

Trước lê dân chi xiết tóc tang (560)

Từ cung Đâu Suất cao sang

Trái tim Từ Phụ muôn vàn xót thương

 

Bèn hóa xuống Nam Dương đất nọ

Mang thân nhân nhà họ Gia kia

Trong vai nho sĩ hàn vi

Kinh xưa sách mới một khi thông làu

 

Đem tài trí lục thao tam lược*

Giúp họ Lưu nhà Thục tranh vương

Một đời Tam Quốc nhiễu nhương

Truyền thông lẽ đạo diệu thường Tâm Linh (570)

*Ngũ Trược: (1) Kiếp trược: kiếp là chỉ cho thời đại, thời gian. Trong thời đại nào mà có các món trược dưới đây thời là thời đại đục nhơ. (2) Kiến trược: Những điêu mê chấp, tà kiến, điên đảo... (3) Phiền não trược: Các tâm niệm bất thiện như tham, sân, si, mạn bất tín... (4) Chúng sanh trược: Năm ấm (sắc, thọ,) hiệp hội sanh diệt chẳng dừng. (5) Mạng trược: Số thọ rất ngắn, sống nay chết mai, mạng sống trong hơi thở. Bốn món trên đây tánh cách nhiễu não, sai lầm, biến đổi vô thường nên gọi là trược (nhơ đục).

Sách để lại Khổng Minh thần toán

Ghi ba trăm tám bốn (384) quẻ mầu

Một bài một ý kinh sâu

Vừa sâu lý Phật, vừa sâu cơ trời

 

Cơ với lý tuyệt vời đến thế!

Lý cùng cơ ý vị làm sao!

Thoạt nghe rõ chuyện thấp cao

Thịnh suy, phải trái, nẻo vào đường ra

 

Rồi suy kỹ sâu xa về lý

Lại tìm ra diệu ý thiền môn (580)

Vượt ngoài vũ trụ Càn Khôn

Tâmkhông, Pháp cũng vô môn như là

 

Ấy, cảnh giới Phật Đà vô thượng

Vượt ra ngoài Hoặc Chướng Nhân Duyên

Khi Tâm về cõi Như Nhiên

Thì Muôn Duyên cũng Vô Duyên như là

 

Ấy cảnh giới Long Hoa thắng hội

Mãi, giữa ba nghìn mỗi mỗi năm

Thảy đều có Phật về thăm

Hóa thân trong những bóng rằm nhân gian (590)

 

*Lục thao, Tam lược. Đây là hai bộ sách thuộc về binh pháp cổ Trung Hoa.

  *Lục thao gồm: - Văn thao: dạy cánh thu phục nhân tâm,
- Võ thao: dạy cách định thiên hạ, giữ nước,
- Long thao: dạy cách kén chọn tướng,
- Hổ thao: dạy cách hành quân, tiến thoái động tĩnh theo thiên lý.
- Báo thao: dạy cách chiến đấu với địch, theo trạng thái biến hóa của địch.
- Khuyển thao: dạy cách huấn luyện quân sĩ.
*Tam lược: là mưu lược đánh trận gồm:
- Tướng lược: là mưu lược làm tướng,
- Quân lược: là mưu lược của quân sĩ,

- Trận lược: là mưu lược đánh trận.
 

Ví dụ: trong từng trang Dịch- Bốc

Của quân sư nhà Thục nói trên

Mỗi trang là một Cơ Huyền

Mỗi quẻ là một Lý Thiền sâu xa

 

Ấy là pháp: gọi là Tứ Nhiếp

Khế cơ mà tận diệt: vô minh*

Tùy duyên hóa độ chúng sanh

Vượt qua Sáu Nẻo Cực Hình Trầm Luân

 

Hãy nghe thử đôi vần Thần Toán

Quẻ đầu:"Nhất quải bản, thiên môn (600)

Rồi; dự định xuất tiêu nhơn         

Mã tê phương thảo địa" thơm đăng trình

 

“Thu cao thính lộc minh"đồng vọng

Những lời thơ trang trọng niềm thơ

Mà, trong thơ chứa huyền cơ

Ấy, con người, đấng"nhân chi sơ này"

 

 “Tánh bản thiện" bị đày xuống thế

 Phải biết vươn lên để" nên người"

 Trở về "bản tánh của Trời"

 Như người đoạt giải nọ nơi thiên đình (610)

 

 Thu cao thế, lộc minh là thế

 Lý và Cơ...nhị đế tương ưng

 Đất thơm, ngựa hí vang lừng

 Bước chân Trí Tuệ không ngừng tiến lên

*Vô minh: Vô: Không, trống không, không có gì. Minh: sáng.

Vô minh là không sáng suốt, tức là còn mê muội, tối tăm, không thấy được cái lẽ thật của sự vật. Hễ vô minh thì si mê, nên vô minh cũng là si mê.

 Mà vươn tới uyên nguyên cứu cánh

 Ấy Long Hoa Tự Tánh như như

 Đương Lai Di Lặc đại từ

 Nụ cười tủm tỉm vô dư Niết Bàn

 

 Lại trở về những trang Thần Toán

 Quẻ thứ hai: “Nhất Quán Xương Minh: (620)

Địa hữu thần

 Thậm uy linh

 Hưng Bang, Phụ Quốc

Hết mìnhty dân"*

 

 Đất có Thần... duy tâm nhất thiết

 Thậm uy linh...nhật nguyệt quang huy

 Từ nơi Thái Cực vô vi

 Mà sinh, mà hóa lưỡng nghi đất trời

 

 Ngũ Hành ấy rong chơi Thất Đại

 Thủy, Hỏa, Địa, Phong...mãi giao duyên (630)

 Ví không Nhị Đại thâm Huyền

 Kiến Đại, thức Đại…sao nên lý mầu? 

 

 Có kiến, Thức...ngõ hầu mới có

 “Địa Hữu Thần"để tỏ uy linh

 Để từ đó thánh nhân sinh

 An Bang, phụ Quốc, cứu tinh dân lành!

 

 Trong quẻ thánh có kinh của Phật

 Tam Giáo đồng nguyên thật hợp hòa

 Rõ ràng tâm thức Long Hoa

 Đương lai Di Lặc...để mà độ sanh (640)

Nghĩa cứu thế long lanh Phật điển

 Đức an dân hiển hiện Thần chương

 Lý, Cơ...hai vế hỗ tương

 Quẻ ba! Cơ, lý tỏ tường một khi

 

 “Trường an hoa

Dễ chi khả cập

 Xuân phong trung,

 Tất bật vó câu

 Gia roi cho ngựa trỗi mau

 Sâu nhiên sinh sắc"muôn màu đẹp xinh (650)

 

 Quẻ ba (3) diễn cơ linh lý nhiệm

 Rằng! Thời cơ đã đến rồi đây

 Nhưng dù cờ đã đến tay

 Cũng cần tự phấn chấn rày mới nên

 

 Mọi sự việc thoạt tiên trắc trở

 Nhưng cuối cùng ắt nở xuân hương

 Thử xem Quẻ bốn (4) âm dương

 Mà nghe vẹn vẻ thiên hương nhiệm mầu

 

 “Xuân hoa kiều mị đâu ngăn được

 Vũ đả phong phiêu buốt thấu xương(660)

Cúc mùa thu dịu dàng hương

 Khéo hay chống chọi tuyết sương dập vùi”

 

*Tị dân: vì dân

*Địa hữu thần: đất có thần

*Thậm uy linh: thậm: sâu sắc, uy linh: sức mạnh thiêng liêng

 Lời quẻ ấy cũng lời kinh vậy

 Tâm thái Di Lặc đấy! Hiển nhiên …

 Cúc mùa thu! Ývị thiền

 Thanh tâm thiểu dục… khéo nên thọ từ

 

 Xuân hoa kiều mị: tuy thuận cảnh

 Nhưng coi chừng lại gánh nghịch duyên

 Cúc mùa thu! dẫu u nhiên

 Nhưng bên trong lại rất nên kiên hào (670)

 

  Quẻ năm (5): Thẳng bước vào lý Dịch

  Bát quái kia hiển hách-Từ Tâm!

 “Chấn: xuân lôi

                                      Tốn: hạ phong

Ngọa long khởi

Mãnh hổ kinh-cơ huyền!

 

  Phong vân hội khéo nên thắng hội

Cứu thương sinh”thoát nỗi truân chuyên

  Ai mà bói được quẻ trên

  Phải nên đặt chữ nhẫn trên đầu mình (680)

 

  Bên chữ nhẫn, đừng quên chữ trí

  Khéo nương theo vị trí khắc, sinh

 Ngọa long khởi, mãnh hổ kinh

 Mới mong cứu tế thương sinhtrược phiền

 

*Xuân hoa kiều mị: chỉ hoa mùa xuân rất đẹp

*U nhiên: tịch tĩnh, vắng vẻ, trầm tĩnh

  Quẻ thứ sáu (6):"phi huyền phi ảo*

 “Phi thiển, phi thâm": Đạo nhiệm mầu

  Một khi "nội vô sở cầu"

 “Ngoại vô sở đắc"biển dâu xá gì

 

 Tâm bất biến, đời tuy vạn biến

 Cũng hóa nên ngự uyển hóa long (690)

 Đạo kia nào ở đâu xa

 Một khi tĩnh lặng thì ta gặp Mình!

 

 Cơ mà nói, quẻ dành cho những

 Ai kia trong tình huống dở dang

 Quan, hôn, tài, lộc làng chàng

 Tựa nương đức Nhẫn mới an phận hèn

 

 Quẻ số bảy (7): hoa sen vươn cánh

 Tự trong bùn lóng lánh lưu ly:

 "Quân tu ngộ,

Vật ngô nghi(700)

Hữu bình lộ,

  Nhiệm khu trì- lành thay!

 

 Tùy thời biến dịch* hay chăng tá?

Kiện kiện hàm nghi”khá tự cường!

 Một khi trí tỏ kim cương

 Trí tâm xán lạn mở đường thành công

 

  Hết nghi hoặc, ắt không phiền não

  Chánh Tín kia, mối đạo Long Hoa

  Trong đầm, sen tím nở hoa

  Cho hương thơm ngát một Tòa Đương Lai (710)

  Cơ mà nói, những ai gặp quẻ

  Ắt chứng ngay ngã rẽ dữ, lành

  Tín Tâm: đẹp bước xuân hành

  Tín Tâm: lạc bước chồng chềnh phong ba

 

  Cầu hôn sự: rõ là hậu kiết

  Cầu công danh: tua hết sức mình

  Xuất hành ắt được như tình

  Cầu tài: đổi hướng kinh doanh mới bền

 

Quẻ số tám (8):đăng trình lẫm liệt:

Hổ luyến cao sơn biệt hữu kỷ  (720)

Chúng nhân mục Hạ (Thượng) hồ nghi

Nhạn lai liêu lịch... vân vi hoa vàng”

 

Ấy đúng lúc danh vang lầu các

Thử tế thanh danh đạt Đế Cơ

Đương cơ khá bắt thời cơ

Sang thu cúc nở đẹp mùa công danh

 

Hướng nam: hướng công thành danh toại

Đất phương Nam “vạn đại dung thân

Bốn bề các vũ tường vân

Cầu hôn, cầu tự... mười phân vẹn mười (730)

 

Quẻ số chín (9)nhân duyên hữu hạnh:

Quý khách tương phùng cánh khả kỳ

Đình tiền khô Mộc (phượng) lai nghi

Hảo tương đoản sự (cớ chi cầu trường)?

Hữu thính bàng nhân”... phường ngụy biện

Quen chõ mồm bàn chuyện thị phi

Trên cây khô, cánh phượng về:

Tri âm, tri ngộ – mấy khi tương phùng!

 

Ý quẻ nói tựu trung đương sự

Phải vững vàng thường trụ tín tâm (740)

Tin nơi tình nghĩa tri âm

Hiển nhiên cứu cánh đặng phồn vinh hoa

 

Quẻ số mười (10)khuyên ta nỗ lực:

Liêu lịch chinh hồng độc xuất quần

Vượt đàn, cánh vút thanh vân

Cao phi vũ dực (cánh) cưu phân”- tuyệt vời!

 

Vân trình Bắc tiến” ngời anh khí

Hảo âm toại khai” - chí tự hào

Triêu vân mộ vũ” sá nào

Một tinh thần nguyện vượt cao chín tầng (750)

 

Ấy Phật đạo: tinh thần tinh tấn

“Thắp đuốc lên! Phấn chấn mà đi!”

Vượt qua nghìn nỗi gian nguy

Vượt qua nghìn nỗi si mê buộc ràng

 

Đi tới mãi trên đàng tự quyết

Giải phóng ta khỏi nghiệp Hữu Tình

Chuyển Thế Tình ra Đạo Tình

Chuyển Hữu Tình ra Vô Tình: Long Hoa !

 

Không còn nữa giữa Ta với Họ

Mỗi còn Đây với Đó nhất như!(760)

Đương Lai Di Lặc đại từ

Long Hoa thắng hội vô dư Niết Bàn!

 

Quẻ mười một (11)vô vàn thảm kịch:

Vô Tung diệc Vô Tích” : não nùng!*

Viễn cận quân nan mịch” cùng*

“Lại” bình địa khởi (nghìn trùng) phong ba”

 

Ấy bản chất Ta Bà chăng tá?

Cái vô thường vô ngã trêu ngươi

Cái “sinh, lão, bệnh, tử” đời

Cái Tam Chướng…những đầy vơi đoạn trường (770)

 

Cơ mà nói: tai ương trước mặt

Khắp xa gần, vắng bặt thân nhân…

Đất bằng nổi sóng mênh mông

Cười trong nước mắt, khóc trong tiếng cười!

 

Ấy quẻ xấu không lời nào tả

Ai bóc nhầm, xin khá hồi tâm

Hồi đầu về nẻo thiện chân

Họa may đỡ được đôi phần tóc tang!

 

*Vô tông, vô tích: không biết hoặc không rõ nguồn gốc lai lịch.

Viễn cận quân nan mịch: xa gần quân khó tìm

Quẻ mười hai(12)viết:

thần ám ám

Ý du du- vô hạn kinh mang  (780)

Thụ khước tuyến- chớ đa mang

Mạc hạ câu” chớ buông càn lưỡi câu!

 

Quẻ nhắc kẻ đụng đầu với quẻ

Hãy giữ lòng lặng lẽ an nhiên

Đừng vọng động, chớ huyên thuyên

Họa may tránh bớt não phiền tai ương

 

Ấy cái lẽ đảm đương nhân quả

Thuở nào kia gió đã từng gieo

Thì nay, vũ đả phong phiêu

Bão kia tất sẽ, gặt theo nghiệp mình!(790)

 

Đạo Phật thuyết đinh ninh nhất thiết:

Nghiệp nhân lành, ắt nghiệp quả lành

Quả mà oan nghiệt đành hanh

Là do nhân nọ “sự sanh” ba đời…

 

Quẻ mười ba(13): tuyệt vời thành tựu

Đắc ý nghi phùng phụ” lành thay!

Tiền trình khứ hữu duyên” may

Lợi danh chung hữu vong” nay vẹn nguyền

 

Tam ngũ nguyệt đoàn viên”- ba tháng…

Năm tháng…mừng gặp bạn Tao Khang (800)

Cũng là thời gặp vinh quang

Phúc như đông hải mênh mang vỗ bờ

 

Sao lúa được trúng mùa trĩu hạt

Ấy hẳn do Chánh Pháp thậm thâm

Bao đời chủng thiện ruộng tâm

Đến nay mới được hồi âm hạt vàng

 

Quẻ mười bốn(14): dở dang cơ hội

Lời rằng “Đỉnh phất khởi phong ba

Lại: cô chu yếu độ hà

Xảo trung tàng khước chuyết”- hay chăng là?  (810)

 

Nhân sự chuyển sa đà” nghiêng ngửa

Ắt hẳn do từ chỗ tâm kia

Không theo nẻo đạo Bồ Đề

Rạc rài tội chướng, dầm dề oan khiên

 

Quẻ mười lăm(15): cơ duyên khéo chuyển

Ý tại nhàn trung tín vị lai

Cố nhân thiên lý (tự) bồi hồi

Thiên biên nhạn túc…” trao người giai âm

 

Nhất điểm mai hoa xuân” khởi sắc

Ấy chẳng qua tâm đắc, tâm hoa: (820)

Yêu người, người ắt yêu ta

Nhớ người, người ắt phương xa nhớ mình!

 

Cơ mà nói: sự tình “hậu kiết

Những “tiền hung” sắp hết rồi đây

Miễn đời vững nếp thảo ngay

Miễn lòng vững nếp xưa rày thủy chung

 

Quẻ mười sáu(16): “tâm hòa đồng vậy

Tâm hòa đồng,sự (ấy) hòa đồng

Thì môn ngoại hảo thi công

Thì “giao gia sự hữu chung” có ngày… (830)

 

Lời quẻ thánh sao bày lẽ Phật

Tâm hòa đồngsự tất hòa đồng

Mỗi “duy tâm tạo” đúng không?

Đương Lai Di Lặc tựu trung ý này!

 

Muốn thế giới hiển bày Thánh Hội

Hội Long Hoa cứu rỗi chúng sanh

Ắt tâm phải trở lại lành

Tâmhòa đồng, thế giới thành Long Hoa

 

Nho Phật Lão đâu xa khoảng cách

Tam vị đồng hiển hách thế gian (840)

Quẻ mười bảy(17): lắm gian nan

Dục hành hoàn chỉ”- ngổn ngang đôi đường

Bồi hồi bất dĩ” - khó đương

Thốn tâm thiên lý”- đoạn trường xiết bao!

 

Gặp quẻ này, “ra, vào” dang dở

Đi” chẳng nên mà “” chẳng xong

Tàn ngọc châu hoài” hoài công

Khuyên người gặp quẻ giữ lòng thản nhiên

 

Đừng hoảng hốt, khá nên tri túc

Phải hiểu đời có lúc thịnh suy (850)

Khó nương hai chữ “thuận tùy

Tùy duyên hạnh – ắt có khi thoát nàn

Quẻ mười tám (18): dở dang chẳng kém

Thương cho người lỗi hẹn đường tu:

Tâm thích thích

      Khẩu thu thu

Nhất phiên tư lự,

 Nhất phiên ưu… sầu!

Thuyết liễu hưu”… dễ đâu hưu đặng

Ác quả kia đeo đẳng nạn nhân

Khá tua phấn chấn tinh thần (860)

Một phen chánh niệm mười phân thoát nàn !

 

Quẻ mười chín(19):rõ ràng diệu pháp:

Bất viễn bất cận” – đạt vô vi

Tự dị tự nan” – tùy nghi

Đẳng nhàn nhất sự” – có chi bận lòng

 

Vân trung tiếu khán”- thong dong đạo

Đạt lý rồi bước dạo Long Hoa

Lý, cơ nào ở đâu xa

Không hai không một: một tòa Như Lai

 

Quẻ hai mươi(20):trăm tai nghìn họa (870)

Lời rằng: “Đào lý tạ xuân phong

Và “Tây phi hựu phục đông

Gia trung vô ý tự” bông lông cùng…*

 

Thuyền tại lãng đào trung” phiêu bạt

Trôi về Đông hay dạt về Tây

Việc nhà bối rối lắm thay

Triền miên bệnh tật, lất lay mộng hồn

 

*Bông lông tức chỉ lông bông: không có hướng nhất định, không có chủ đích rõ ràng, nay chỗ này, mai chỗ kia, nay thế này, mai thế kia. Không có gì nghiệm túc, không đâu vào đâu.

Tình với cảnh luống tương ứng thế

Muốn thoát ra, hồ dễ thoát ra

Phải mau niệm chữ Long Hoa (880)

Cho tâm thoát nghiệp ta bà đảo điên

 

Quẻ hai mốt(21):trùng tuyên ý chí:

Nhất thủy viễn nhất thủy … cô đơn

Lại  “nhất sơn toàn nhất sơn”

Thủy cùng sơn tận xứ”… trường đình thi!

 

Nhưng: “danh lợi bất vi nan” đấy!

Trong cái “cùng” lại thấy cái “hay

Rủikia chờ sẵn may này

Hết cơn bĩ cực, tới ngày thái lai

 

Phúc, lắm lúc cũng trùng lai nhỉ (890)

Quẻ hai hai (22): diễn ý tương phù:

“Sự tương phù tại bán đồ”

Giữa đường có kẻ giúp cho nhau cùng

 

Bởi lẽ: “phiên phúc chung khả miễn”

Nên mọi điều hung hiểm đều qua

“Phong ba nhất điểm vô”mà

Tựu trung quẻ lập cho ta vận lành

 

Vẫn là cuộc vận hành nhân quả

Nhân trước lành nên quả nay vui

Mừng thay phước tuệ song đôi (900)

Như đôi chân dựa nhau, thời tiến mau!

 

Quẻ hai ba(23): bắt đầu chữ Hỷ!

Xuân phong sinh đào lý gấm hoa

Bất dụng cường ưu tiền mà!

Minh nguyệt nhân thiên lý”- à quý nhân!

 

Quẻ nhắc nhở qua tuần bĩ cực

Đặng cố nhân ra sức hộ trì

Ắt qua bĩ vận một khi

Tương lai xán lạn xuân thì nở hoa

 

Công danh gặp thời mà thịnh đạt (910)

Cầu tài: cơ thịnh phát- xuất hành!

Ắt là gặp đặng bạn lành

Cầu hôn: hạnh phúc sẽ thành lứa đôi…

 

Ý tư tư

Tâm (thời)thích thích

Yếu bình an

Phòng xuất nhập”

Lời Quẻ hai bốn (24): khuyên ta

Khá nên cẩn thận đề xa phòng gần

 

Chủ yếu phải giữ tâm thanh tịnh…

Giữ trí cho mình chính mới là

Đề phòng những kẻ gian ngoa (920)

Đang chờ cơ hội hại ta tiêu đời

 

Quẻ hai lăm(25): nhắc người cẩn thận!

Hãy coi chừng kẻ đứng sau lưng

Kiến bất kiến,

 dã phòng nhân…Bối diện…

ngộ bất ngộ”…dễ chi phân dữ lành!

 

Chuyện muôn thuở chúng sanh ba cõi

Dữ chen lành, phước tuệ chen nhau

Hỡi người trôi giạt sông sâu

Muốn đáo ngạn, hãy sớm mau hồi đầu! 

 

Quẻ hai sáu(26): nhắc câu “nhàn dật”(930)

Nhất phiên đào lý nhất phiên xuân

Ai hay rằng: “khí tượng tân

“Thủy biên lâm hạ” mưu tầm kế sinh…

 

Kiến sơn xứng tâm tình liễu liễu”

Thảy non xanh, lòng khéo thảnh thơi…

Rõ ràng, quẻ nói sự đời

Mà cũng là nói đạo trời, lòng ta !

 

Quẻ hai bảy(27): khuyên ta “dứt khoát”

Mạc quái ngã kiến thác” mới là

“Kẻo tâm tính tự thành a”(940)

Thói quen nghe bậy người ta vẻ vời

 

Chân nhân há vướng lời ma quỷ

Cứ lập trường như thị mà theo

Con đường Bát Chánh cao siêu

Chánh Tri Kiến nở mỹ miều Long Hoa

 

Quẻ hai tám(28): cơ mà vinh hiển:

Lộc mã giao trì” uyển chuyển thay!

Nam nhi đắc chí” hội này

Thời hành trình tảo biển”: ngày vinh quy!

 

Vinh quy lạc kì di”- quẻ nói (950)

Độc tam đa dành buổi cao niên

Tam đa ngũ phúc triền miên

Cũng nhờ tu đạo Thánh Hiền Long Hoa

 

Quẻ hai chín(29): thiết tha tâm sự

Liễu khước tâm đầu sự”- lành thay!

Tam sinh túc hữu duyên” này…

Hương khai thập lý quế” rày triền miên

 

Di bộ nhập thiên biên”- thong thả…

Ba sinh duyên nợ thỏa mười nguyền…

Quan hôn tài lộc vẹn tuyền (960)

Ấy rằng cực lạc trên miền thế gian

 

Quẻ ba mươi(30): “Lục Hoàng Các” nọ

Bạch Liễu Đầu…” dễ có nên chăng

Lợi danh! Đáy nước mò trăng

Mộng… huyễn… bào … ảnh… chi bằng… dừng chân!

 

Bất Như Sấn Thử,

Tinh thần do hảo 

Mãi ta chân khí…” đạo trường xuân

Một khi bồi bổ nguyên chân

Ắt ta sẽ được dự phần Long Hoa (970)

Quẻ ba mốt(31):dặn ta phải quyết

Đừng trễ tràng mà việc bất thành

Lời rằng: “Tảo tảo khởi trình

Miễn tha thất Ý ” rành rành đó thôi!

 

Dục tốc bất đạt: lời dẫu đúng

Nhưng… chậm tay, ắt cũng mất cờ

Phải ra tay kịp thời cơ

Thiên thời đã sẵn, mỗi chờ “năng nhân”!

 

Hãy bước tới tinh thần tinh tiến

Để dự phần vinh hiển Long Hoa (980)

Quẻ ba hai(32):dặn dò ta

Coi chừng lạc quá ắt là sinh bi

 

Lạc chi cực hĩ ưu tương chí

Tốn đoài phân minh cát dữ hung

Vị năng quang đại chung u ám

Nhật lạc Tây Sơn phản chiếu trung

Tốn, Đoài hai nẻo cát hung

Mịt mờ nào thấy ánh hồng quang vinh!

 

Non tây ác lặn sinh tia sáng

Ra cuộc đời: minh, ám chen nhau… (990)

Trong vui kia lẫn chen sầu

Trong sầu nọ, lẫn chen màu hân hoan

 

Đời là thế chẳng toàn vui khổ

Khổ hay vui gốc tự tâm này

Một phen, Định, Tuệ sâu dày

Ắt là mở đặng mặt mày Long Hoa

Thử xem Quẻ ba ba(33:) cho biết:

Lịch quá ba đào tam ngũ trùng 

Thùy tri lãng tĩnh  hựu vô phong

Tu giao minh đạt thanh vân lộ   (1000)

Dung xá hàng tàng bất phí công

Vượt qua dăm trận bão bùng

Một phen gió lặng sóng dừng ai hay

 

Tua nhìn suốt đường mây phía trước

Khỏi phí công những bước hành tàng

Tiền đồ muôn dặm thênh thang

Một tâm chơn đại dọc ngang Sơn Hà

 

Quẻ ba bốn(34): Long Hoa thành tựu:

Lời rằng: “Khuyết nguyệt hựu trùng viên

Lại: “khô chi cánh sắc tiên”  (1010)

Nhất điều di thản lộ” -êm bước thiền

 

Kiều thủ vọng thanh thiên” ngửng mặt

Nhìn trời xanh trong vắt thanh thiên

Trăng từ khuyết lại tròn lên

Cây đang khô lại xanh lên nhánh, chồi

 

Quẻ nhắc nhở ai người hoạn nạn:

Ngày mai trời lại sáng” ai ơi !

Một cơn bĩ cực qua rồi

Đương lai Di Lặc mở đời Long Hoa

 

Quẻ ba lăm(35): nhắc ta nổ lực:(1020)

“Hành lộ nan!

Kim nhật phương tri …

Tiền trình quảng đại…lo chi!

Kim triều miễn lực…” dặm hòe xênh xang

 

Dẫu trước mặt việc đang trì trệ

Nhưng với người ý chí trung kiên

Chữ rằng mài sắc nên kim 

Một mai ắt đặng đẹp duyên mây rồng

 

Quẻ ba sáu(36): thong dong giở tiếp…

Ngậm mà nghe “ý thiếp tình quân:

Xuân cảnh minh        (1030)

 Xuân sắc tân

Xuân ý bang thủy sinh! vần điệu vui!

Xuân thiên vô hạn… cảm hoài…

Yến quỳnh lâm” dự khoan khai tiệc đời…

 

Lời thơ đấy hay lời quẻ đấy

Hay lời kinh “như vậy” Long Hoa

Dạy rằng trong cõi người ta

Một “tùy duyên hạnh” đủ mà thong dong

 

Một khi đã lắng trong ngũ ấm

Bữa tiệc đời bất tận khinh an (1040)

Niềm “thanh tịnh hạnh” hòa chan

Với niềm “thiền duyệt” vô vàn tinh khôi

 

Để thấy đóa hoa cười trước ngõ

Sau một đêm mưa gió bão bùng

Để nghe xuân ý ung dung

Nhởn nhơ tô điểm gấm nhung ta bà

 

Hễ sắc đến thì ta vui sắc

Hươngđến, ta dìu dặt vui hương

Một tâm vắng bặt cung thương

Tung tăng nhấp chén quỳnh tương rượu đời (1050)

 

Quẻ ba bảy(37): ngời ngời phong độ:

Vạn mã quy nguyên… trở lại nguồn

Thiên viên triều động… kính tôn

Long hàng hổ phục”… Nam Dương lẫy lừng!

 

Đạo cao đức trọng”… chưng tôn giả

Thần cơ diệu toán quẻ vô song

Vẫy vùng Nam Bắc Tây Đông

Hàng long phục hổ, khai thông đạo trời!

 

Quẻ ba tám(38): ngời ngời nguyên hạo:

Ríu rít “hoàng ly báo thượng lâm”(1060)

Xuân sắc tiên minh” … tuyệt trần…

Đề tiên khoái trước”… dấn thân trường đình

 

Mã thượng tốc hành trình”… kịp hội

Thời, Lợi, Hòa… mở lối thênh thang

Vai mang đạo lý hành trang

Tiến lên cho kịp đạo tràng Long Hoa

 

Quẻ ba chín(39):cao sang lồng lộng

Lời rằng: “Đại tứ phóng linh đan

Trái tim Bồ Tát cưu mang

Cứu nhân hành vạn thiên… đang đọa đày! (1070)

Đáo đầu đăng bỉ ngạn… này

Độ quá nhập tiên ban” hay Niết Bàn!

 

Ấy Bồ Tát hành tàng cứu thế

Đức Dược Vương phúc tuệ huyền vi

Lại trang từ mẫu lương y

Xum xê y đức, diệu kỳ y phương

 

Quẻ bốn mươi(40): tỏ tường tang tích

Rằng: “Nhất đái thủy

     Bích trừng trừng

Chu trụ giang thượng…     (1080)

 …Nguyệt đáo thiên tâm

Ổn bộ kì trung

Huyền diệu bất văn

Phi nhân ngộ dĩ

Kỷ táng sinh thân

 

Một dãy nước trong ngần biêng biếc

Một con thuyền đối nguyệt chơi vơi

Để ngoài tai những chuyện đời

Ác nhân lừa gạt có hồi mạng vong

 

Quẻ nhắc ta giữ lòng thanh tĩnh (1090)

Giữ lập trường kiên định mới nên

Đừng nghe bàn góp huyên thuyên

Kẻo ra vực thẳm, ác duyên sẵn chờ

 

Qủe bốn mốt (41): nhắc ta tri chỉ

Gặp tiết xuân đào lý đua tươi

Khá nên tri túc lộc trời

Chớ vòi vĩnh quá kẻo rồi “tham, thâm

 

Một khi biết thanh tâm thiểu dục

Ắt đến gần chuẩn mực Long Hoa

Quẻ bốn hai (42): dặn dò ta (1100)

Xuân lan thu cúc” mặn mà cả hai

Thanh phong minh nguyệt

Tứ phương vãng lai

Đắc bằng hữu cát” hài hòa kim lang

 

Long Hoa hội bạt ngàn thiên lý

Song ngẫm trong thọ ký lại gần!

Một khi thanh lọc tinh thần

Thanh tịnh kì ý”- ắt chân như về!

 

Ma với Phật nào chia hai tính

Thánhvới phàm cũng chính một tâm (1110)

Một khi vượt thoát mê lầm

Quán Tự Tại hóa Quan Âm tức thời

 

Quẻ bốn ba (43): tuyệt vời vận số:

Hốt kiến vân gian sổ nhạn hồi

Bên hồ nở một nhành mai

Tửu phùng tri kỉ thiên bôi thiểu” mà!

 

*Thù tạc: chủ và khách mời nhau uống rượu (nói khái quát).

Vần thơ đẹp theo hương hoa ngát

Hạnh phúc kia thù tạc thong dong

Phúc đây tuệ đó song song

Ấy Long Hoa hội về trong tâm thiền (1120)

 

Quẻ bốn bốn (44): trung tuyên tịnh độ!

Tứ cố vô môn lộ”: đường cùng!

Nhưng “đào nguyên lộ khả thông”

Tu luyện thành chánh quả” thong dong đời

 

Hóa ra thuận duyên người đã đến

Nghịch cảnh càng phương tiện thuận duyên

Một phen dứt bặt não phiền

Tâm kia chứng ngộ “đào nguyên” khó gì

 

Quẻ bốn lăm (45): hướng về Tam Bảo

Chớ nặng lòng phiền não kinh mang (1130)

Trú chân chỗ đã sẵn sàng

Tiếng chuông vang vọng mở đàng quy nguyên

 

Ấy bởi lẽ não phiền nếu có

Cũng là do tâm nọ phan duyên

Bởi trần, hợp giác một phen

Ắt ta trở lại Cõi Trên Liên Đài

 

Quẻ nhắn nhủ những ai ai đó

Gặp quẻ này mau bỏ trần tâm

Ham gì đáy nước mò trăng

Mau hồi hướng cõi trăng rằm ban sơ (1140)

 

Quẻ bốn sáu (46): “bôn ba nhất thế

Tổng thị hư phù” (để đớn đau!)

Vô thường (nhất) đáo vạn sự hưu

Ai ơi! “cấp tảo hồi đầu” Long Hoa

 

Quẻ bốn bảy (47): khuyên ta “phản bổn

Quy tông” về thực tướng “hữu tình

Lời rằng: “phương thị  nguyên tinh

Chân nhân chân nhân bất thức

 

Chân thần chân thần hữu linh

Quy tông phản bản(1150)

Phương thị nguyên tinh

Một phen bỏ vọng ắt tìm thấy chân!

 

Nẻo cơ trần an trần lạc đạo

Phản bổn rồi ắt đáo Tây Phương

Dùi mài tuệ kiếm kim cương

Long Hoa Thắng Hội trầm hương ta bà

 

Quẻ bốn tám (48): khuyên ta nghiêm cẩn: *

Chớ rạc rài: “tẩu tận thiên nhai

Phong sương lịch biến” đông đoài

Bất như vấn nhân tam thiên” ngoài biển dâu (1160)

 

 “Tiệm tiệm hữu hồi đầu kiến” vậy

Cứ quay đầu ắt thấy bờ kia!

Gọi rằng hành xử vô vi

Ấy là hành động thuận tùy thiên luân!  (1164)

 

*Nghiêm cẩn: hết sức chặt chẽ, không để có sơ hở, dù nhỏ.

Toàn bộ lợi nhuận của công ty cổ phần Đại Nam không chia cho cổ đông. Lợi nhuận sau khi tái đầu tư, công ty sẽ dành 100% lợi nhuận còn lại cho quỹ từ thiện Hằng Hữu hoạt động vì cộng đồng, đặc biệt là chương trình mổ tim dành cho trẻ em