Long Hoa Trẩy Hội - Quyển 5

Long Hoa Trẩy Hội - Quyển 5

 Quyển Năm

 

Quẻ hai trăm bảy mươi bốn (274)

Tam thiên môn

Tứ địa hộ

Bố trận thành

Minh tụ lộ

Quân mã tề bôn

Minh cổ tiến bộ

 

Tam thiên địa tứ phân môn hộ

Bố trận thành tựu lộ phân minh

Chỉnh tề hàng mã ngũ binh (10)

Thì thùng trống trận, linh đình bước quân

 

Quẻ diễn tả bước chân trận mạc

Người đương cơ chi khác tướng quân

Namnhi bản lĩnh thông thần

Lục thao tam lược mười phân vẹn mười

 

Lâm trận đã ngời ngời trí tuệ

Đối phương dù khí thế bào hao

Ba quân phất ngọn cờ đào

Đạo ra tất đặng, đạo vào tất nên

 

Cầu hôn: ắt nên duyên nên phận (20)

Cầu tự: sinh con tuấn tú thay

Công danh: cách một tầm tay

Có công mài sắt, có ngày nên kim

 

 

Quẻ hai trăm bảy mươi lăm (275)

Sơn sơn sơn

Sơn thượng kiến mao am

Bất tỉ nhân gian đống vũ

Khước như thiên thượng đàm

 

Núi núi núi… núi bạt ngàn

Non cao dựng túp thảo am sơ sài (30)

Sánh chi trần thế lâu dài

Phất phơ như thể cõi ngoài chân mây

 

Quẻ miêu tả những ai gặp quẻ

Hẳn là người có chí thanh cao

Vượt qua thế ngục trần lao

Đăng phong tạo cực xiết bao siêu phàm

 

Núi cao ngất, một am mây dựng

Hít khí tiên thiên, những dưỡng tâm

Tinh hóa khí, khí hóa thần

Một mai ắt đặng hóa thân Di Đà (40)

 

Cùng trời đất hợp hòa thành một

Ấy tiên phong đạo cốt thảnh thơi

Bờ kia thoắt đã tới nơi

Trở về quê cũ mà chơi với mình

 

Công danh: chẳng hợp tình đương sự

Xuất hành: đi với ở mà chi

Chữ rằng: sinh ký tử quy

Một tâm đại nguyện, thuận tùy Long Hoa

 

Quẻ hai trăm bảy mươi sáu (276)

Lai khứ nguyên vô định xứ (50)

Thời lai thời khứ an thân

Bạt thiệp vô ngu

Vinh nhục bất kế

 

Cõi vô định xứ bạt ngàn

Nẻo lui nẻo tới… một an thân mình

Con đường lập nghiệp linh đinh

Sá chi vinh nhục, nhục vinh tuồng đời

 

Vô định xứ: cõi người hiện hữu

Nỗi đi về khó thấu hành nhân

Có điều, trong cuộc phong trần (60)

Hễ tri mệnh, tức an thân: lẽ mầu

 

Đã tri mệnh hiểu sâu lẽ đạo

Kiếp con người: điên đảo cơn mê

Thì đi, thì ở, thì về

Bước ta đi giữa chính đề: an vui!

 

Quẻ hai trăm bảy mươi bảy (277)

Hữu tử trưởng thành thời

Ngộ hỏa phản phát phúc

Bất tất quá ưu tiên

Nhân tâm khổ bất túc”(70)

 

Khi con trai đã trưởng thành

Gặp hỏa tưởng họa, lại thành phúc thêm

Việc chi lo lắng ưu phiền

Bất tri túc luống đảo điên tâm người

Thủy hỏa đã tuyệt vời tương tế

Cớ sao còn được quế đòi tiên

Lòng tham vốn dĩ vô biên

Hại người vốn dĩ, lại thêm hại mình

 

Sao bằng cứ đinh ninh trong dạ

Một điều tâm nguyện cả bình sinh (80)

Sống sao cho đẹp đời mình

Trong đạo đệ nhất nghĩa xinh phận người

 

Người gặp quẻ thảnh thơi tri túc

Ắt tìm ra hạnh phúc mai đây

Thanh tâm thiểu dục vui vầy

Lực tòng tâm, ắt có ngày thảnh thơi

 

Công danh: sớm gặp thời vinh hiển

Tài lộc: nhiều biến chuyển hay ho

Cầu tự: đặng phúc trời cho

Cầu hôn: hạnh phúc thơm tho chén quỳnh (90)

 

Quẻ hai trăm bảy mươi tám (278)

Hắc dạ lý vật tiền vãng

Vãng hữu trị yếu trước hoảng

Lao lao ký tu kết bạn

 

Trong đêm tối chớ lân la

Gặp điều bất trắc chớ mà hoảng kinh

Một điều phải nhớ đinh ninh

Là nên kết bạn liên minh đồng hành

 

 

Đi trong tối dễ sanh tai họa

Việc chưa tường chớ khá nhúng tay (100)

Giữ tâm bình tĩnh cho hay

Chớ để ngoại cảnh nó rầy rà ta

 

Còn một lẽ rất là cơ bản

Là phải lo kết bạn đồng hành

Ví không đồng điệu, đồng minh

Lấy chi chụm được cây thành non cao

 

Đạo lý ấy lẽ nào không rõ:

Ba người đi, ắt có một thầy

Muốn làm, phải có hai tay

Muốn đi, phải có chân này chân kia (110)

 

Người gặp quẻ nhớ ghi khắc dạ

Muốn thành công phải khá kết giao

Ba anh em nọ vườn đào

Một cuộc kết nghĩa xiết bao viễn trình!

 

Công danh: hẳn thỏa tình cá nước

Xuất hành: âu gặp bước mây xanh

Cầu tài: đợi bạn đồng hành

Cầu hôn, cầu tự: ắt thành tựu vui

 

Quẻ hai trăm bảy mươi chín (279)

Trập long dĩ xuất thế (120)

Đầu giác thủ sinh thành

Vân hưng vũ trạch

Đắc tế quần sinh

 

Ẩn long xuất thế rồi

Đủ sừng, vẩy, đầu, đuôi

Gọi mây, làm mưa lớn

Giúp nhân sinh phục hồi

 

Người gặp quẻ, ấy người xuất chúng

Bậc nam nhi uy dũng khác thường

Dù là sĩ nông công thương   (130)

Thảy đều để đức lưu phương một đời

 

Bản lĩnh thế gặp thời ắt đạt

Chưa gặp thời cũng khác thường nhân

Cũng tròn đạo sống long lân

Tu tề trịvẫn mười phân vẹn mười

 

Công danh: ắt tuyệt vời thành tựu

Xuất hành: nhật tân hựu nhật tân

Cầu hôn: gặp ý trung nhân

Phượng loan hảo sự, Tấn Tần hảo duyên

 

Quẻ hai trăm tám mươi (280)     (140)

Hỏa thế huân thiên

Thiên biên tận xích

Ngộ giáng thủy nguyên

Thứ hữu để cực

 

Thế lửa bùng trời

Chân  trời rực đỏ

Nước nguồn to nhỏ

Thủy hỏa trao lời

 

Thủy hỏa tương tế: lời quẻ dạy

Luật thiên nhiên kia ấy đạo này   (150)

Có hỏa không thủy chẳng hay

Có thủy không hỏa dễ tày đạo trung

 

Thủy với hỏa phải cùng song bước

Như họa kia cho phúc thêm giòn

Cũng như tuệ nọ vàng son

Mới làm cho phúc thêm tròn thêm vuông

 

Luật trời đất hiển dương như thế

Thủy, hỏa kia tương tế tương sanh

Âm dương đôi vế ngọn ngành

Thái cực mở, lưỡng nghi thành lứa đôi (160)

 

Người gặp quẻ đang thời thuận lợi

Đường công danh phơi phới thanh vân

Xuất hành thuận bước êm chân

Cầu hôn, cầu tự: mười phân vẹn mười

 

Quẻ hai trăm tám mươi mốt (281)

Hướng nam hữu đại đạo

Thừa mã nhập Hàng thành

Bất hòa mỹ nhân xướng

Cánh hữu nhất tri âm

 

Hướng nam đường lớn thênh thang (170)

Ra roi phi ngựa tới Hàng Thành kia

Cung đàn xướng họa lâm ly

Khách tri âm nọ dễ chi kiếm tìm

 

Phúc cao họa quả: niềm hiu quạnh

Phận hạc kia sao sánh với gà

Hướng nam đường rộng bao la

Hàng thành phong vận đợi ta tao phùng

 

Công danh: ắt tựu trong thành tựu

Tài lộc mà thạnh mậu phương nam

Cầu hôn: như nguyện đá vàng (180)

Cầu tự: sớm đặng con ngoan nối dòng

 

Quẻ hai trăm tám mươi hai (282)

Hữu điền nhất mẫu

Tận khả canh vân

Vô cùng thu hoạch

Đô tại tây thành

 

Ruộng kia một mẫu cũng vừa

Tận lực cày cấy cũng dư ăn xài

Được mùa, kém cạnh chi ai

Tây thành đóng vựa ăn xài quanh năm (190)

 

Quẻ nhắc nhở biết chăng ai đó

Biết kiệm cần ắt có tương lai

Liệu cơm gắp mắm mới hay

Có công mài sắt có ngày nên kim

 

Người gặp quẻ khó tìm phương hướng

Hướng tây kia vô lượng phúc lành

Một đi đúng nẻo xuất hành

Của ăn của để sẵn dành mai sau

 

Đạo tri túc ngõ hầu cần kiệm

Phận thủ thường bất biến tùy duyên (200)

Ruộng kia mở ngõ phúc điền

Tận nhân lực ắt tri thiên mệnh mà!

 

Quẻ hai trăm tám mươi ba (283)

Vật hiềm thỏ vô thần

Tật túc truy bất cập

Nạp nhập viên huyệt trung

Tẩu cẩu hà xứ mịch

 

Đừng chê thỏ không môi

Thoắt cái, vượt qua rồi

Ẩn vào hang vượn vắng (210)

Chó săn dễ mất mồi

 

Quẻ đề cập đến người tuổi Mão

Hoặc là thời thuộc Mão cũng nên

Người tuổi Mão ắt ưu tiên

Thiên thời, địa lợi an nhiên tuổi này

 

Hoặc thời Mão, giờ, ngày, năm, tháng

Cũng là thời vận hạn hanh thông

Giúp người gặp quẻ nên công

Lại trong ý quẻ tựu trung hãy còn

 

Lời nhắc nhở vuông tròn đạo lý (220)

Trong khuyết kia vốn dĩ có ưu

Ví như thỏ nọ, ví dầu

Thiếu môi nên vẻ đẹp người bớt xinh

 

Nhưng chớ vội mà khinh thỏ nhé

Dẫu sứt môi, mà lẹ bước chân

Lại thêm mưu mẹo cao thâm

Biết nương hang vượn trú thân thoát nàn

 

Kẻ có trí phải toan cho đúng

Chớ dựa trên sắc tướng bên ngoài

Mấy ai vẹn vẻ sắc tài (230)

Anh hùng đoàn giữa trần ai mới già

 

Công danh: ở trên đà thắng lợi

Xuất hành: nên tính vội đường đi

Cầu tài, cầu lộc: khả thi

Cầu hôn, cầu tự: việc gì cũng thông

 

Quẻ hai trăm tám mươi bốn (284)

Lục ngưu canh địa

Khẩn khai vô cương

Thu thành kết thực

Doanh lẫm doanh thương”(240)

Sáu trâu cày ruộng

Khai khẩn mênh mông

Đầy kho thóc lúa

Vui vầy nghiệp nông

 

Quẻ khuyên người ra công gắng sức

Một chữ cần oai lực vô biên

Một chữ cần, thêm chữ chuyên

Ắt là tới đặng cõi miền vinh hoa

 

 

Luật nhân quả bày ra trước mắt

Có gieo thì có gặt. Thế thôi!(250)

Cần chuyên gieo hạt, tới thời

Ắt là gặt hạt vàng phơi ngày mùa

 

Đại phú do thiên dù có thật

Tiểu phú do cần bất khả hư

Sáu trâu ra sức cần cù

Ắt là kho lẫm cũng dư một đời

 

Công danh: vất vả rồi thành đạt

Xuất hành: nhiều thất bát gian lao

Cầu tài: cậy sức cần lao

Cầu hôn, cầu tự: xiết bao nhọc nhằn (260)

 

Quẻ hai trăm tám mươi lăm (285)

Đại phấn xung thiên khí

Vật khổ luyện gia hương

Thất bát quân hành tảo

Dương võ tại sa trường

 

Phấn khởi chí can trường

Thôi lưu luyến gia hương

Ra đi tầm bảy tám

Diệu võ chốn sa trường

 

Chí làm trai bốn phương hồ thỉ (270)

Ru rú chi hương lý ao nhà

Để rằng: ta tắm ao ta…

Mênh mang hồ biển đợi ta trên đường

 

Người gặp quẻ ví đương trù định

Chuyện đi xa, mưu tính công danh

Hãy nên quyết đoán cho nhanh

Kẻo long vân lỡ hội dành cho nhau

 

Tháng thuận lợi nhằm vào bảy, tám

Đầu mùa thu nhất đán nên công

Khéo lưu ý chữ “sa” cùng (280)

Gặp “sa” ắt đặng trùng phùng gặp may

 

Công danh: sắp tới ngày hiển đạt

Xuất hành: nên ghi tạc mùa thu

Quẻ này nằm trọn chữ “du”

Có du ắt đặng huân tu nghiệp lành

 

Quẻ hai trăm tám mươi sáu (286)

Quỳ hoa hướng nhật

Trung xích khuynh tâm

Đại khai quảng hạ

Lạc hưởng thái bình”(290)

 

Hoa quỳ luôn hướng mặt trời

Tấc lòng chung thủy không rời quân vương

Mở toan cửa lớn ngọc đường

Khiến cho thiên hạ mười phương thái bình

 

Quẻ ca ngợi trung trinh lòng ấy

Hướng đông nam đẹp bấy tiến trình

Một đời, hai chữ trung trinh

Tu tề cũng một, tu bình đâu hai

 

Trinh hạnh ấy dễ ai có được

Có hạnh trinh ắt vượt vũ môn (300)

Mặc cho chớp bể mưa nguồn

Hoa quỳ một dạ hướng dương mặt trời

 

Công danh: khéo gặp thời vinh hiển

Cũng nhờ nơi ân điển quý nhân

Một niềm tương kính như tân

Giúp cho hoạn lộ muôn phần vẻ vang

 

Xuất hành: cứ đông nam mà hướng

Gặp quý nhân mở lượng bao dung

Cầu hôn, cầu tự: ắt xong

Vì chưng sau trước tấc lòng trung trinh (310)

 

Quẻ hai trăm tám mươi bảy (287)

Nhân bất thức tiên

Ná hữu chân quyết

Nhất thập huyền môn

Tân tân hữu ích

 

Người chẳng biết tiên

Truyền thuyết chân truyền

Một vào cửa đạo

An vui nhãn tiền

 

Ý quẻ nhắc đến người gặp đạo (320)

Trải bao phen điên đảo truân chuyên

Duyên lành một phút gặp tiên

Bấy giờ thấu đặng lẽ huyền như như

 

Một thấu đặng lẽ như mầu nhiệm

Ắt phúc lành sẽ đến cùng ta

Công danh: há phải tìm xa

Một phen lý ngộ ắt là cơ thông

 

Xuất hành: cứ thong dong bước tới

Như bát tiên phới phới hài mây

Cầu tài, cầu lộc: gặp may (330)

Cầu hôn, cầu tự: thỏa ngay ước nguyền

 

Quẻ hai trăm tám mươi tám (288)

Vật vị thuyết thoại thái trầm

Nê liễu tựu bất thành chân

Ngộ xuất thiên ban áo diệu

Phương thức tiên đạo tối thần

 

Chớ rằng truyền thuyết quá thâm sâu

Câu nệ nên không tỏ nghĩa mầu

Ngộ lý từ ngàn điều có diệu

Mới hay tiên đạo mãi bền lâu (340)

 

Lẽ tiên đạo thâm sâu khó giải

Phải lắng lòng suy mãi mới hay

Ví như hoặc chướng sâu dày

Mãi câu với nệ biết ngày nào nên

 

Quẻ nhắc nhở đạo tiên lý thánh

Phải gắng công kiến tánh, minh tâm

Đã thành đạo lý thậm thâm

Một khi chứng ngộ ắt gần Như Lai

 

Công danh: giữa trần ai khó kiếm

Xuất hành nên tìm đến linh sơn (350)

Cầu tài, cầu tự, cầu hôn

Thảy đều đối diện hoàng lương mộng hờ

 

Quẻ hai trăm tám mươi chín (289)

Công danh tuy đa

Thực tế hà như

Tu luyện thành chân

Chân thân bất hủ

Vạn tải trường xuân

Công danh rôm rả

Thảy là mộng cả (360)

Tu luyện thành chân

Rỡ ràng chân ngã

Vạn tải trường xuân

 

Quẻ nhắc nhở người về với đạo

Đời, chẳng qua là ảo đấy thôi

Công danh: một đám mây trôi

Tụ đây tán đó, rã rời phù du

 

Nhân tước vốn là hư, chẳng thực

Thiên tước kia mới thật, không hư

Luyện tâm cho tới cảnh Như (370)

Ắt hòa chung với thái hư một vần

 

Người gặp quẻ hẳn gần với đạo

Nên công danh ắt dạo qua thôi

Xuất hành: hướng cõi đạo trời

Cầu tài cầu lộc: có thời như không

Quẻ hai trăm chín mươi (290)

Tẩu tẩu tẩu

Ngộ nhất cẩu

Cấp tư tầm

Khả trường cửu”(380)

 

Chạy chạy chạy

Gặp cẩu ấy

Gắng công tìm

Nghiệp bền vững vậy

 

Tẩu tẩu tẩu: ấy là nổ lực

Là khẩn trương gắng sức đấu tranh

Thời gian qua vội rất nhanh

Chớ nên bê trễ, khó thành nghiệp cho

 

Người trong quẻ ví như gặp Tuất

Ấy có cơ hội nhập thiên cơ (390)

Thiên thời địa lợi có dư

Khả năng lập nghiệp thiên thu lâu dài

 

Công danh: phải cấp thời tranh thủ

Xuất hành: đừng do dự trễ tràng

Cầu tài, cầu lộc mọi đàng

Cầu hôn, cầu tự: nhất phàm thuận phong

 

Quẻ hai trăm chín mươi mốt (291)

Bất tri chân tiêu tức

Tiêu tức tằng địa lai

Nguyệt viên nguyệt khuyết dạ (400)

Bất hứa bả môn khai

Tin kia chân giả chưa tường

Thoảng nghe trong gió, dạ càng phân vân

Trăng tròn trăng khuyết chưa phân

Cài then, phòng kẻ gian nhân mới là

 

Người gặp quẻ đang thời hung hiểm

Nổi kình nghi bất tín, khó lường

Bên tai dồn dập tin sương

Biết đâu chân giả, liệu đường tới lui

 

Cẩn tắc vô ưu: lời cổ đức (410)

Dẫu tin kia là thực hay hư

Phận mình cẩn mực cho chu

Cài then đóng cửa: phòng ngừa vẫn hơn!

 

Công danh: hãy còn đương lận đận

Xuất hành: nên cẩn thận đường đi

Cầu tài: chẳng lợi lộc chi

Cầu hôn: ắt có duyên gì ít lâu

 

Quẻ hai trăm chín mươi hai (292)

Hỏa vượng xứ

Yếu bất khứ  (420)

Thủy thâm xứ

Yếu bất lai

Đáo đầu tu chước lượng

Vô đắc nhạ tha tai

 

Xứ hỏa vượng, liệu đường lai khứ

Xứ hỏa thâm, liệu chữ vãng lai

Tùy cơ ứng biến kịp thời

Mới mong tránh khỏi họa tai bất tường

 

Người trong quẻ rõ đường gặp biến

Hỏa vượng kia hung hiểm lắm thay!(430)

Lại thêm cảnh thủy thâm này

Thủy thâm, hỏa vượng nơi tay hại người

 

Nhưng, ngộ hiểm mới ngời bản lĩnh

Trí tuệ kia mưu tính lược thao

Đất bằng dẫu dậy ba đào

Tay thuyền một vượt qua bao thác ghềnh

 

Công danh, tới xuất hành: thảy thảy

Mọi mưu toan xin hãy tạm dừng

Đợi qua vận bĩ, thời hung

Bấy giờ ta lại vẫy vùng mới nên (440)

 

Quẻ hai trăm chín mươi ba (293)

Tân nhạn nhiễu hồ địa thành lục

Hành kiến công huân tảo hồi trình

Bầy nhạn quanh hồ: địa thành lục

Gây dựng công huân: sớm trở về

Ấy kịch bản nhân sinh muôn thuở

Lập công xong nên nhớ quay về

 

 

 

 

Trăng thanh gió mát vườn quê

Là nơi chí sĩ đề huề nước non

Chớ lưu luyến vàng son danh lợi (450)

Miếng đỉnh chung bỉ ổi lắm thay!

 

Được chim quăng ná xưa nay

Cuộc tranh mồi thảm khốc tày sài lang

Người gặp quẻ chớ ham chen chúc

Hãy nhớ câu tri túc thảo thơm

Cầu tài, cầu lộc, cầu hôn:

Thảy đều bất lợi, vô phương thực hành

 

Quẻ hai trăm chín mươi bốn (294)

Thiên thượng phong

Thiên biên nhật (460)

Nguyệt bạch phong thanh

Lưỡng lưỡng tương đương

Ngọn gió lưng trời

Vầng nguyệt trùng khơi

Trăng thanh gió mát

Vừa lứa xứng đôi

 

Người trong quẻ gặp thời tương đắc

Như mai kia mà gặp trúc này

Trăng thanh gặp gió mát thay

Bá Nha gặp Tử Kỳ, mây gặp rồng (470)

 

Kỳ ngộ ấy dễ hòng mấy lúc

Phải nói rằng quả phúc tròn vuông

Nga nga… hồ chí… cao sơn…

Mấy ai nghe đặng tiếng đờn tri âm

Công danh: ắt đủ nhân thành đạt

Xuất hành: nhiều lợi lạc tương giao

Cầu tài: chẳng đặng là bao

Cầu hôn: gặp bạn vườn đào tương tri

 

Quẻ hai trăm chín lăm (295)

Diệp vinh căn trưởng lập thiên địa (480)

Thùy thanh nguyên trường lưu hải hà

Nhân đắc kim đan trường sinh uyên nhai

 

Gốc vững lá tươi rợp đất trời

Nước xanh nguồn cũ, biếc ngàn khơi

Người mà gặp đặng kim đan ấy

Bất lão trường sinh, thỏa mộng đời

 

Quẻ khuyên người sống vui theo đạo

Đạo đất trời huyền ảo lắm thay!

Gìn vàng giữ ngọc cho hay

Bền cành, chắc rễ, có ngày nở hoa (490)

 

Chân nguyên ấy liệu mà gìn giữ

Như nước kia cậy ở nguồn cao

Kim đan, tìm kiếm nơi nào

Ấy nhờ tính khí thần trao tặng mình

 

Công danh với xuất hành chuyện nhỏ

Cầu tài cầu lộc: không quan tâm

Một lòng hướng tới thiên chân

Ắt là hưởng đặng hương trầm Long Hoa

 

Quẻ hai trăm chín mươi sáu (296)

Thừa mã khứ tràng an (500)

Khán hoa hoa chính phát

Nhất nhật vũ lai lâm

Hương sắc tận điêu linh

 

Ruổi ngựa tới Trường An

Xem hoa nở dặm ngàn

Một phen mưa gió dập

Hương sắc thảy phai tàn

 

Quẻ cực tả thế gian bốn vế

Lẽ vô thường khổ đế mênh mông

Bốn vế thành trụ hoại không (510)

Sinh lão bệnh tử não nùng lắm thay!

 

Đã biết đời nọ thày lay thế

Bao sắc hương diễm lệ, để rồi

Một cơn gió dập mưa vùi

Thế là tan tác cả trời đất kia

 

Vậy sá để lòng chi nơi đó

Thế vị kia, gắn bó chi lòng

Một khi thấu sắc là không

Ắt là đạt tới thong dong cảnh thiền

 

Công danh: luống ngang duyên trái phận (520)

Thái qua rồi, bĩ lận đận về

Xuất hành lắm nỗi nhiêu khê

Cầu tài cầu lộc: chẳng chi tựu thành

 

Quẻ hhai trăm chín mươi bảy (297)

Mộc trưởng xuân thiên căn cán

Lão tử thực tam thu

Chi diệp bất điêu bất tạ

Bất kiến căn lao

 

Xuân về rễ tốt cây xanh

Thu qua rụng lá, rơi cành tả tơi (530)

Ví không lá rụng, cành rơi

Lấy chi tỏ sức bền nơi gốc già?

 

Quẻ nhắc cái kinh qua bản lĩnh

Của con người trải cảnh tang thương

Xuân thu cảnh ngộ đòi cơn

Bao nhiêu vui, bấy nhiêu buồn. Triền miên!

 

Cũng tùy cảnh (tùy duyên bất biến)

Cảnh xuân sang biểu hiện tình xuân

Cũng đơm bông, cũng nảy mầm

Rồi khi thu tới cũng lâm ly sầu (540)

 

Cũng ủ mặt mày trau tàn tạ

Cũng khô cành rụng lá thê lương

Có điều: giữa cuộc tang thương

Vẫn long lanh một kim cương sức bền!

 

Công danh: chửa làm nên sự nghiệp

Xuất hành: hơn với thiệt đồng cân

Cầu hôn lắm nỗi phân vân

Cầu tự chưa đặng truyền nhân nối dòng

 

Quẻ hai trăm chín mươi tám (298)

Khiếu đạo khiếu đạo (550)

Thiên tướng minh liễu

Hà bất thân thủ

Thư mi phản tố

Bồng cảo đáo lão

Sớm tỉnh giấc, ai ơi!

Canh năm, sắp sáng rồi

Mau mở mày mở mặt

Tội chi núp lén đời? 

 

Thời cơ đã đến rồi- quẻ nhắc

Mau đứng lên nắm bắt thời cơ (560)

Một phen liệu gió phất cờ

Làm cho bốn cõi, đôi bờ rạng danh

 

Người gặp quẻ hùng anh sẵn chí

Đã thoát qua vận bĩ rồi đây

Bản kia với lại lĩnh này

Mau đem thi thố đông tây với đời

 

Công danh: rõ cái thời hiển đạt

Xuất hành: nhiều lợi lạc tha phương

Cầu tài, cầu tự, cầu hôn

Thảy đều sự sự cát tường hanh thông (570)

 

Quẻ hai trăm chín mươi chín (299)

Dược nhị chân phục liễu linh

Tam tễ hậu phúc phân minh

Thần trung thần thanh trung thanh

Cố đắc khẩn khả trường sinh

Thuốc tốt bệnh chóng lành

Ba tễ đã phân minh

Thần khí trăm sảng khoái

Khéo dụng ắt trường sinh

 

Có thuốc tốt, bệnh tình mới chuyển (580)

Có tướng tài, trận tuyến mới ưu

Quý hồ tinh bất quý hồ

Lời xưa đã dặn, đã dò nhớ chăng?

 

Thần thanh, khí sáng, tâm nhàn hạ

Nội lực kia dường đã có dư

Lại thêm thần dược công phu

Ngọn thuần thanh ắt ngời lư hỏa này

 

Công danh: hẳn tới ngày hiển đạt

“Nhất nghệ tinh thì nhất thân vinh”

Xuất hành: thuận lợi đăng trình (590)

Cầu hôn, cầu tự: tròn xinh ước nguyền

 

Quẻ số ba trăm (300)

Tam thiên tằng kết xã

Tứ hải tận tri danh

Trường kỵ tuấn mã

Trực nhập thiên đình

 

Ba miền kết tội

Bốn biển nghe tên

Đường dài ngựa ruổi

Thiên đình thẳng lên (600)

 

Người gặp quẻ hẳn nên danh phận

Đã gặp thời, gặp vận rồng mây

Lại thêm sẵn đức, sẵn tài

Chữ tài chữ phận gồm hai: tuyệt vời!

 

Tài, phận đã sánh đôi như thế

Phúc quả này chưa dễ mấy ai

Khi nên trời cũng chiều người

Anh hùng tạo thế, tạo thời mấy khi! 

 

Quẻ đại cát rất hy hữu vậy

Công danh, tài lộc: thảy hanh thông (610)

Cầu hôn: đặng ý trung nhân

Cầu tự: ắt đặng truyền nhân nối dòng

 

Quẻ ba trăm lẻ một (301)

Nhàn lai phu tử xứ

Ngẫu nhiên ngộ nhất nhân

Đồng nhan hạc phát

Tiếu lý sinh xuân

 

Nhàn rỗi đến thăm thầy

Gặp một người lạ thay

Tóc bạc, mặt thơ trẻ (620)

Tiếng cười, xuân vui vầy

 

Quẻ nhắc đến một cơ hạnh ngộ

Gặp bậc thần tiên ở trần gian

Tóc bạc in dấu thời gian

Mặt mày thơ trẻ, rỡ ràng chân nguyên

 

Ấy lý đạo diệu huyền như thế

Giữ lục căn, không để lục trần

Một tinh, hóa khí, hóa thần 

Ắt là thể hiện nguyên chân tót vời!

 

Nguyên khí ấy nên người trọn vẹn (630)

Là chân nhân, là thiện chi sơ

Là Hài Nhi của Thiên Cơ

Vô biên, vô lượng đại từ đại bi

 

Công danh: ắt đến kì đại thịnh

Xuất hành: vui ngâm vịnh tri âm

Cầu tài, cầu lộc: mười phân

Cầu hôn, cầu tự: long lân phỉ nguyền

 

Quẻ ba trăm lẻ hai (302)

Nhàn vân dã hạc vọng Đông hành

Duy hữu hương nhân thị tri âm (640)

Kinh doanh bố trí lưỡng tam xuân

Liên nhai đăng hỏa

Cầm phiến tiền trình

 

Mây ngàn hạc nội hướng về đông

Gặp bạn đồng hương kết giải đồng

Sắp đặt ba năm chờ vận hội

Liêu nhai cẩm phiến tiến trình xuân!

 

Bước lưu lạc, hướng Đông hạnh ngộ

Cùng đồng hương thổ lộ tâm tư

Ba năm sắp đạt có dư   (650)

Tiến trình hoa gấm đẹp như xuân hành

Người gặp quẻ: công danh hiển đạt

Xuất hành: vui mai hạc đào viên

Cầu tài: sau tiết Thượng Nguyên

Cầu hôn, cầu tự: đẹp nguyền năm sau

 

Quẻ ba trăm lẻ ba (303)

Hán thủy vô tình

Thục thủy trừng thanh

Hoàng Hà cổn cổn

Tứ hải yên trần”(660)

Hán thủy vô tình

Thục giang trong vắt

Hoàng Hà cuồn cuộn

Bốn bể âm u

 

Hán thủy với Thục giang: ý nói

Nẻo đi về hai lối hai nơi

Hoàng Hà cuồn cuộn nước trôi

Bước chân lận đận của người đương cơ

 

Thời chưa tới, lấy cờ đâu phất

Dẫu tài cao khôn cất cánh diều (670)

Mênh mang tứ hải tiêu điều

Một bầu tâm sự, rất nhiều đắng cay

 

Người gặp được quẻ này nên nhớ

Để trong lòng một chữ nhẫn thôi

Nhẫn cho qua buổi qua thời

Đợi năm tới sẽ tới hồi thái lai

 

 

Quẻ ba trăm lẻ bốn (304)

Tiềm long dĩ thụ khốn

Thượng bất kiến vân hưng

Trữ khán vân tứ hợp (680)

Phi khứ đáo thiên đình

 

Rồng ẩn gặp cơn khốn

Trên đầu chẳng bóng mây

Những mong mây sớm hiện

Để thiên đình cao bay

 

Rồng ẩn: ý nói người tài trí

Chỉ tiếc chưa thỏa chí dọc ngang

Chín tầng trong vắt không gian

Ước chi có chút mây vàng mây xanh

 

Để nương đó, rồng đoanh xó ruộng (690)

Vút tung lên muôn trượng, tung hoành

Công danh: chậm trễ, chưa thành

Cầu hôn, cầu tự: phận đành dở dang

 

Quẻ ba trăm lẻ năm (305)

Thử xứ tư vị nồng nồng

Uất bất nại cửu hà như?

Đàm tiếu sinh phong đảo

Hảo đông bôn tây tẩu

 

Mùi vị nồng nàn thế

Sao ý chẳng nồng nàn (700)

Ân cần tình cảm quý

Hơn bôn tẩu hà phang!

Ý quẻ khuyên những người gặp quẻ

Nên sống trong đạo nghĩa ân cần

Lấy câu tương kính tương lân

Nhất cận lân, nhì cận thân mới là

 

Một khi giữ mặn mà tình cảm

Ắt giao tình cũng đáng kết liên

Ở lành ắt gặp được hiền

Thương người: ắt đặng hưởng niềm người thương (710)

 

Hòa thuận ấy đạo thường nhân thế

Nghĩa dĩ hòa vi quý tròn vuông

Ao nhà gẫm lại là hơn

Việc chi cầu cạnh, hà phương ao người

 

Công danh: chưa gặp thời thông thuận

Xuất hành: nên cẩn thận là hơn

Cầu tài, cầu tự, cầu hôn

Thảy đều chẳng đặng tròn vuông như nguyền

 

Quẻ ba trăm lẻ sáu (306)

Giá lý hữu tiểu nhân (720)

Thiết vật sảo lưu đình

Mang đả điểm hảo khởi hành

Nhật nguyệt du, vật cửu tồn

 

Nơi này có kẻ tiểu nhân

Hỏi còn nấn ná dừng chân ích gì

Liệu mà tính gấp đường đi

Thoi đưa ngày tháng, duyên trì luống thêm…

 

Người gặp quẻ chớ nên trì hoãn

Hãy đứng lên mạnh dạn rời chân

Nơi này có kẻ tiểu nhân (730)

Miệng hùm nọc rắn mười phân hiểm nghèo

 

Nhân bất hòa, ấy điều tối kỵ

Huống quanh mình có kẻ tiểu nhân

Vậy: đi là kế thoát thân

Tam thập lục kế, là chân lý này!

 

Công danh: chưa tới ngày hiển đạt

Xuất hành: nhiều luân lạc truân chuyên

Cầu tài: mưu sự chẳng yên

Cầu hôn, cầu tự: càng thêm bẽ bàng

 

Quẻ ba trăm lẻ bảy (307)  (740)

“Long sinh đầu giác

Tương bái cam lâm

Lục thất bát tảo

Hảo tế thương sinh

 

Đầu mọc sừng chơi

Bay vút xanh khơi

Sáu, bảy, tám sớm

Cứu dân, độ đời

 

 Ý quẻ nói đến người tài trí

Đợi thời cơ, du hí thần thông (750)

Trên đầu, rồng mọc sừng rồng

Bốn chân năm móng thẳng xông lên trời

 

Hô phong hoán vũ ngời thiên địa

Hảo tế thương sinh, để tiếng đời

Thế gian, hào kiệt mấy người?

Hỡi người gặp quẻ, mệnh trời chớ quên!

 

Công danh: đã đúng thiên thời vậy!

Xuất hành: nên chụp lấy thời cơ   

Tháng sáu, bảy, tám (6,7,8)- mùa thu…

Cầu hôn, cầu tự… thảy như ý cầu.(760)

 

Quẻ ba trăm lẻ tám (308)

Thái Bạch hiện Tây Nam

Long xà tương cạnh trục

Long tự phi thiên thượng

Xà khước bị hình lục

 

Sao thái bạch hiện Tây Nam

Rồng rắn cạnh tranh, tương tàn

Rồng vọt lên trời thăm thẳm

Rắn thì bị diệt tru ngay

 

Người gặp quẻ rõ đang ngộ hiểm (770)

Cuộc tranh phong diễn biến khôn lường

Một rồng thì biến tâm luôn

Một rắn thì tại đương trường phân thây

 

Ai là rồng? Ai đây là rắn?

Quẻ không hề nói thẳng là ai

Chỉ rằng trong cuộc tranh tài

Một thua một thiệt chẳng ai hưởng tròn

 

Người gặp quẻ sao còn chưa tỉnh

Lời cổ nhân: “một nhịn chín lành”

Thay vì một cuộc tương tranh (780)

Ấy là hạ sách rành rành binh thư

 

Công danh: hẳn là hư, chẳng thực

Xuất hành: nên đợi lúc bình yên

Cầu tài, cầu tự, cầu duyên

Thảy đều chẳng đặng như nguyền một, hai

 

Quẻ ba trăm lẻ chín (309)

Bả thụ tài hoa

Yếu đãi xuân lai

Đông phong niễu niễu

Khai biến hoa nhai”(790)

 

Trồng cây tỉa nhánh

 Hãy để sang xuân

Gió đông đầm ấm

 Một cành thanh tâm

 

Hiện công việc còn đang trở ngại

Đợi sang xuân rồi hãy khởi công

Thiên thời địa lợi hanh thông

Gặt đặng kết quả mười phân vẹn mười

 

Công danh: tiên bĩ, rồi hậu thái

Xuất hành: nên đợi tới mùa xuân (800)

Cầu tài, cầu lộc, cầu thân

Thảy đều nhẫn nại đợi tuần xuân sang

 

Quẻ ba trăm mười (310)

Tứ thập dư niên khổ dĩ thâm

Nhi kim nữ lạc độ quang âm

Mạc trù luận ân ái

Thượng đa hoan hỉ sự

Tích thậm thanh xuân

Bất giảm thanh xuân

 

Bốn chục năm dư luống đoạn trường (810)

Nay cùng nữ nhạc đặng thừa lương

Thiếu gì ân với ái

Biết đủ phấn cùng hương

 

Ấy giữ thanh xuân bền vững mãi

Khi rằng vạn thọ khéo vô cương

Chuyện người trải trăm đường gian khó

Bốn mươi năm gắn bó nước non

Về chiều, phúc lộc vuông tròn

Thái bình vui hưởng, tấc son rỡ ràng

 

Lại, thấu nghĩa đá vàng tri chỉ (820)

Tâm niệm câu phú quý bất năng…

“Ghét đời Kiệt Trụ đa dâm

Để dân đến nỗi sa hầm sảy hang…”

 

Sống chi, chỉ biết an với phận

Chẳng ham chi việc lận thói đời

Miệt mài trong cuộc ăn chơi

Để cho tinh lực một thời héo khô

 

 

Như thế ắt tha hồ thọ phúc

Đẹp mai lan cúc trúc bốn mùa

Ấy rằng: tuy buổi già nua  (830)

Nhưng mà sức lực lại như tiên đồng

 

Quẻ ba trăm mười một (311)

Tam đông túc văn nghệ tích

Đáo đầu xứ diệc thành thủy

Cấp cấp hồi thủ

Vật ngộ tiền trình

 

Ba năm mài dũa nghiệp văn

Nào ngờ công cốc luống ăn năn

Mau quay đầu lại

Tiền trình họa chăng (840)

 

Quẻ nhắc kẻ chuyên văn chẳng có

Luống ba năm gắn bó uổng công

Dã tràng se cát biển đông

Khuyên ai đó, hãy dừng chân quay đầu

 

Duyên đã chẳng có, sao có phận

Chi bằng thôi dừng dấn bước thêm

Mau mau đổi hướng ngựa, thuyền

Hoa lá tìm đặng lối lên vườn hồng

 

Công danh: những long đong lỡ bước

Xuất hành: nên tìm chước quay đầu (850)

Cầu tài: đổi nghiệp cho mau

Cầu hôn: tìm chỗ khác, sau mới thành

 

Quẻ ba trăm mười hai (312)

Kỳ quái kỳ quái

Tiền phiên lai liễu

Kim phiên hựu lai

Cẩn thận đề phòng

Vật bị phá hoại

 

Kỳ quái kỳ quái

Mới qua lại lại (860)

Mới lại lại qua

Cẩn thận đề phòng

Kẻo bị phá hoại

 

Chữ thường nói: họa vô đơn chí*

Họa từng phen đáo để đòi phen

Ai mà gặp quẻ này, nên

Dốc tâm cảnh giác nhớ nên đề phòng

 

Đời là thế! Bên trong cái phúc

Có cái họa chen chúc bên trong

Phúc thì đến một mình, song (870)

Họa thì lại đến song song hai mình

 

Người gặp quẻ phải đinh ninh dạ

Kẻ vãng lai nó phá hoại ngầm

Chữ rằng ám tiễn dễ lầm

Minh thương dễ tránh phải phân cho tường

 

 

*Họa vô đơn chí:Họa:Tai vạ, tai nạn lớn. Vô: không. Đơn: một lần. Chí: đến, tới.

Họa vô đơn chí là cái tai họa không đến một lần.

Ý nói: Tai họa thường xảy đến liên tiếp, dồn dập.

Thường nói: Họa vô đơn chí, Phước bất trùng lai.

Nghĩa là: Cái họa thì không đến một lần, còn cái phước thì không đến nhiều lần.

Quẻ ba trăm mười ba (313)

Canh ngưu phục quỹ

Tịch thổ khai cương

Tọa khán thu hoạch

Thử tắc đạo lương”(880)

 

Trâu cày cặm cụi

Vỡ đất, khai hoang

Ngô khoai, nếp tế

Đầy bồ, đầy rương

 

Ý quẻ nói đến người cần mẫn

Biết tích phòng, ắt vận phong nhiêu

Tích cốc phòng cơ: tuyệt chiêu

Tích y, phòng hàn: hỏi điều nào hơn?

 

Muốn được thế phải thường làm lụng

Phải khai hoang, mở rộng biên cương (890)

Một khi vỡ đất thành nương

Ắt là thóc lúa đầy rương đầy bồ

 

Người gặp quẻ còn chờ chi nữa

Mau xắn tay áo, vỡ đất nhà

Cùng trâu ta xới ruộng ta

Để cho cành mạ ngọc ngà đơm bông

 

Mà chẳng cứ nhà nông nhà sĩ

Ngư tiều chi chẳng thế. Đúng không?

Một khi lấy sức làm công

Ắt là quả phúc đơm bông ngày mùa (900)

 

Quẻ ba trăm mười bốn (314)

Yêu hạ bội thanh bình

Bộ nhập kim loan điện

Phú hộ tam sơn

Thiên chùy bách luyện

 

Lưng đeo kiếm thanh bình

Bước vào kim loan điện

Phù trợ ba non

Dày công tu luyện

 

Ý quẻ nhắc con người bản lĩnh (910)

Hãy dầy công tu luyện phép tiên

Hỏa đầu đúng mực như nhiên

Lưng đeo bội kiếm khắc tên Thanh Bình

 

Vào kim loan điện xinh long phụng

Phù hộ Ba Non những vững an

Công phu luyện thép nung vàng

Một ngọn lửa tam muội càng thuần thanh

 

Công danh: phải tâm thành khổ luyện

Xuất hành: nên bất biến tùy duyên

Cầu tài: cầu vận mới nên (920)

Cầu hôn: ắt đặng nên duyên Tấn Tần*

 

Quẻ ba trăm mười lăm (315)

Sồ điểu hội phi cao

Xuất cốc thiên kiều giao

Long thần nha trảo

Biến hóa hải đảo

Chim non đã bay cao

Rời tổ vút tung mây

Thần long ngoài hải đảo

Vuốt nanh một trổ tài (930)

 

Người gặp quẻ đặng thời đại cát

Đồng thời là lỗi lạc nam nhi

Là anh thư nữa có khi

Nga nga lời chí, triển thi can trường

 

Bản lĩnh đã đường đường như thế

Thành quả kia há dễ vô như?

Rõ là quy luật ngàn xưa

Có bản lĩnh ắt có thừa tương lai

 

Công danh: rõ một mai hiển hách

Công huân thời tiết sạch giá trong (940)

Xuất hành: rạng rỡ Thăng Long

Cầu hôn, cầu tự: song song thỏa nguyền

 

Quẻ ba trăm mười sáu (316)

Cát cát cát

Tầm thường nhất dạng song tiền nguyệt

Hung hung hung

Hữu liễu mai hoa tiện bất đồng

Hàm tiếu hướng đông phong

Nhân tình bất tỉ cựu thời nồng

 

 

 

 

 

 

 

*Tấn Tần là hai nước lớn vào thời Xuân Thu Chiến quốc bên Tàu. Nhà vua của hai nước ấy cưới gả con cái hai bên cho nhau trải qua nhiều đời.

Do đó, từ ngữ: Tấn Tần hay Tần Tấn là chỉ sự kết thông gia giữa hai họ, sự kết hôn giữa trai và gái.

Cát cát cát (950)

Nguyệt sáng bên song nghìn rào rạt

Hung hung hung

Mai nở sao nghe ý não nùng

Mỉm cười hướng gió đông

Nhân tình có khác thuở tình chung

 

Quẻ đi giữa cái hay cái dở

Dở hay hay dở tự lòng người

Bên song trăng sáng cũng vui

Mà hoa mai nở, xuân ơi, cứ buồn!

 

Ra vui khổ cội nguồn chẳng phải (960)

Nơi cảnh đâu, mà tại lòng người

Lòng vui thì cảnh ắt vui

Lòng buồn, cảnh cũng rã rời buồn theo

 

Công danh rõ trăm chiều lận đận

Xuất hành: khôn gặp bạn thủy chung

Cầu tài: tiền kiết hậu hung

Cầu hôn: chẳng đặng ý trung nhân nào

 

Quẻ ba trăm mười bảy (317)

Hỏa thiên viêm tai

Nghi thủy tương tế (970)

Bảo đỉnh đan thành

Hân thiên yết địa

 

 

 

 

Phừng phừng ngọn lửa bốc cao

Khéo đưa nước vào hạ lửa cho nhanh

Một mai linh dược luyện thành

Long trời lỡ đất thịnh danh vang rền

 

Lẽ thủy hỏa tương liên tương tế*

Ấy chính là diệu đế nhân sinh

Linh đan muốn được luyện thành

Phải thông cái lẽ ngũ hành tương giao (980)

 

Từ cái một rạt rào thái cực

Rẽ ra năm mối tức ngũ hành

Thủy hỏa tương tế rành rành

Trong hai có một trong mình có ta

 

Sống có nghĩa chan hòa đôi lứa

Có tương giao để mở đường đi

Như tìm đặng bạn tương tri

Ắt là phúc lộc một khi tự thành

 

Công danh: đặng quả lành nhờ bạn

Xuất hành: may gặp bạn đồng tâm (990)

Cầu hôn cầu tự vân vân…

Thảy đều nhờ mối tri âm đá vàng

 

Quẻ ba trăm mười tám (318)

Thiết sách nhất điều

Vị bả cô chu hệ

Kim đao nhất hạ

Tảo bả đầu lạc địa

*Tương tế: Tương:Cùng nhau, đối lẫn nhau. Tế: giúp đỡ.

Tương tế là giúp đỡ lẫn nhau.

Nung sắt đánh dây

Cột thuyền chưa chắc

Đao vàng một nhát (1000)

Đứt dây rơi đầu

 

Người gặp quẻ đương thời lóng ngóng

Nỗi dầu sôi lửa bỏng lắm thay!

Loay hoay nung sắt đánh dây

Làm nên sợi xích, họa may cột thuyền

 

Vẫn chưa chắc đã nên được chuyện

Chắc chi thuyền ổn bến an bờ

Ví như dũng mãnh tâm cơ

Dựng đao vàng, một nhát thừa đảm đương

 

Công danh: muốn hiển dương vận hội (1010)

Hãy chọn ngay đường lối kim đao

Cầu hôn: chẳng chút âm hao

Cầu tự: chẳng kết quả nào, chớ trông!

 

Quẻ ba trăm mười chín (319)

“Thập nhị thời trung

Khẩn cấp luyện trước

Nhất khắc thiểu diên

Vô xứ hạ cước

 

Mười hai thời khắc

Luyện tập chuyên cần (1020)

Một giây bê trễ

Chỗ nào đặt chân

 

Người gặp quẻ đương cơn cấp bách

Hãy gắng tìm đối sách cho mau

Dòng nước ngược có chờ đâu

Ngưng tay một thoáng vực sâu tức thời!

 

Vực sâu sẵn chờ người dưới nước

Cảnh tình người lội ngược dòng kia

Dầu sôi lửa bỏng cận kề

Chớ nên dãi đãi, khó bề an thân (1030)

 

Sách nói chữ chuyên cần nhẫn nại

Đúng cho ai gặp phải quẻ này

Gượng chèo gắng chống cho hay

Một câu niệm Phật vượt qua ái hà

 

Quẻ ba trăm hai mươi (320)

Phong khởi tây nam

Hồng nhật đương thiên

Kỳ môn diệu quyết

Nhất chưởng năng khán

 

Gió thổi tây nam (1040)

Vầng nhật chói chang

Kỳ môn diệu quyết

Một đoàn, chinh an

 

Bậc hào kiệt làm nên thời thế

Bản lĩnh kia đáng để kính tôn

Tây nam dấy ngọn gió nồm

Vầng hồng tỏ rạng càn khôn cõi bờ

 

Kỳ môn diệu quyết: cơ đã phất

Đòn đã ra: dĩ dật đãi lao

Vận trù quyết sáchlược thao *(1050)

Dĩ tịnh chế động: ai nào dám đương

 

Công danh: hẳn trên đường thành đạt

Xuất hành: vui bể bạc rừng vàng

Cầu hôn, cầu tự mọi đàng

Thảy đều như ý mình đang sở cầu

 

Quẻ ba trăm hai mốt (321)

Vạn lại vô thanh tế

Nhất nguyệt chính đương không

Vật bị vân già yểm

Hồn phách phản mông lung”(1060)

 

Giữa bốn bể vắng lặng

Vầng nguyệt tỏ không trung

Chợt đâu mây phủ nặng

Khiến phách hồn mông lung

 

Người gặp quẻ đương cơn tai biến

Giữa đất bằng bỗng chuyển ba đào

Mây đen phủ khắp tầng cao

Vầng trăng đang tỏ bỗng đâu lu mờ

 

Đang sống giữa ngây thơ thanh thản

Bỗng lãnh tròn tai nạn gièm pha (1070)

Ba lời vu khống người ta

Hóa ra một “sự thật” mà trêu ngươi

 

 

*Dĩ dật đãi lao: lấy mạnh đối phó với yếu

*Vận trù quyết sách= quyết sách vận trù: Quyết: Liệu định. Sách: Kế hoạch. Vận trù: Vận động và trù liệu toan tính công việc.

Khiến kẻ sống giữa lời vu khống

Như vầng trăng thoắt bỗng chìm mây

Ngẩn ngơ hồn phách lắm thay!

Ai từng kinh lịch ắt hay nỗi niềm

 

Công danh luống ngả nghiêng sự nghiệp

Xuất hành: nhiều thua thiệt thị phi

Cầu hôn, cầu tự: chi chi

Thảy đều bị tiếng thị phi cản đường (1080)

 

Quẻ ba trăm hai hai (322)

Nhất cá tri âm

Khước tại thiên biên đẳng

Thiết vật nhân tuần

Tĩnh dạ đương tư tỉnh

 

Có một bạn tri âm

Chốn xa xăm chờ đợi

Lòng há dám thờ ơ

Đêm vắng nghìn nghĩ ngợi

 

Đời dễ có mấy người tri kỉ (1090)

Một tri âm đủ để thỏa lòng

Nhớ câu “lượng cả bao dong

Tấn Dương được thấy mây rồng có phen

 

Vì cái nghĩa “đào viên kết nghĩa

Tấc dạ này há dễ đơn sai

Một niềm đau đáu hôm mai

Những mơ cùng tưởng cùng ai sum vầy

 

 

 

*Tên đất nay thuộc huyện Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây. Đường Cao Tổ từ đất Tấn Dương dấy binh đánh nhà Tùy, dựng nghiệp đế.

Như cá nước rồng mây thịnh hội

Bạn tương tri đầu gối, tay nâng

Một lòng vì nước vì dân (1100)

Mối ơn tri ngộ, chén xuân tàng tàng

 

Công danh: dẫu bạn vàng phù trợ

Xuất hành: nên thượng lộ đi thôi

Cầu tài: lợi lộc mười mươi

Cầu hôn: ắt gặp đặng người tri âm

 

Quẻ ba trăm hai mươi ba (323)

Chúng khuyển tương tụ

Lệ xỉ giảo nha

Dao đầu bãi vĩ

Chỉ cố khán gia”(1110)

 

Đàn chó quần tụ

Há mõm nhe răng

Đuôi quẫy hung hăng

Giữ gìn nhà cửa

 

Người gặp quẻ tốt cung nô bộc

Được bề tôi ra sức tận trung

Đừng răng khuyển mã bông lông

Nhà kia giữ được nhờ công chó này!

 

 

Gẫm cuộc thế mới hay cái lẽ

Tương giao, tương hỗ để sinh tồn (1120)

Vua tôi, chủ tớ… tam cương*

Ai mà giữ đặng đạo thường ắt nên!

*Đào viên kết nghĩa: Đào:Cây đào, trái đào. Viên: vườn. Kết: ràng buộc với nhau. Nghĩa: đường lối cư xử đúng theo đạo lý.

Đào viên kết nghĩa là nơi vườn đào, anh em bạn kết chặt tình than thiết với nhau bằng điều nghĩa.

Đây là nói về việc ba vị: Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi, đời Tam Quốc, tế cáo Trời Đất, thề nguyền kết chặt tình nghĩa anh em với nhau nơi vườn đào.

Thương kẻ dưới ắt bền sự nghiệp

Kính người trên ấy nếp nho gia

Trăm năm trong cõi người ta

Chữ nhân chữ nghĩa khéo mà giúp nhau

 

Công danh: dễ qua cầu, nhờ bạn!

Xuất hành: nên mạnh dạn mà đi!

Cầu tài: lợi nhỏ một khi

Cầu hôn, cầu tự: việc gì cũng xong (1130)

 

Quẻ ba trăm hai mươi bốn (324)

Thê tiền phụ hậu nhất đồng hành

Hảo tỉ tiên cơ triệu dĩ minh

Quân nhược hữu tình tu thiết ký

Thập niên ân nghĩ mạc vong tâm

 

Thê thiếp cùng nhau một bước đường

Tiên cơ đã tỏ, triệu nên tường

Tình xưa ví hãy còn ghi dạ

Ân nghĩa mười năm, giữ lửa hương

 

Quẻ nhắc nhở muối gừng chung thủy (1140)

Đẹp nhân sinh lấy nghĩa làm đầu

Nghĩa là có trước, có sau

Có nguồn có cội, có đầu có đuôi

 

Người ta sống trên đời phải nhớ

Bát cơm Phiếu Mẫuthuở hàn vi*

Tuồng đời lúc thịnh lúc suy

Của tuy tơ tóc, nghĩa suy nghìn trùng

 

 

 

*Tam cang hay Tam cương là ba giềng hay ba mối, gồm: Quân thần cang, Phụ tử cang, Phu thê cang.

Người gặp quẻ ung dung thê thiếp

Chữ thuận hòa đoàn kết khéo hay!

Tình xưa ghi khắc dạ này (1150)

Lửa hương gìn giữ, đợi ngày vinh hoa!

 

 

Công danh: rõ trên đà triển vọng

Xuất hành: nhớ thuận chống, thuận chèo

Cầu tài lộc đặng phong nhiêu 

Cầu hôn, cầu tự: thuận chiều hanh thông

 

Quẻ ba trăm hai mươi lăm (325)

Thử phục huyệt

Bản tự ninh

Nhất lộ thủ

Miêu tức căn thân (1160)

Dương uy trảo

Thử táng tàn sinh

 

Chuột trong huyệt vốn bình an

Ló đầu khỏi tổ, nguy nan tức thời

Mèo kia giương móng vuốt chơi

Coi chừng chú chuột tiêu đời nhà mi

 

Quẻ nhắc nhở ai kia phận… chuột

Hãy… biệt thời thưa thớt…mới hay

Chớ mà theo lối thày lay

Rời hang ở kín, múa may cõi ngoài (1170)

 

*Hàn Tín lúc hàn vi, đi câu cá ở các sông rạch mang về Hoài Âm bán đi để độ nhật qua ngày. Muà Đông giá rét, Hàn Tín không đi câu được, đói... Bấy giờ, có một bà lão tên Phiếu Mẫu thưong tình động lòng thương kêu chàng đến nhà, bà già cũng nghèo rớt mồng tơi, nấu gạo thành cơm trắng cho Hàn Tín ăn với tương đậu nành, dưa để sống qua ngày...

Về sau, Hàn Tín đã được Hán Cao Tổ phong cho tước vị "Nguyên Nhung Bình Sở" , nhưng Hàn Tín vẫn không quên ơn bà già Phiếu Mẫu đã cho mình những bát cơm dưa...

Hàn Tín trở về quê, thân hành đến tận nhà bà cụ Phiếu Mẫu thăm viếng tạ ơn. Bà cụ già nay nhận được những bát vàng bạc, châu ngọc từ Hàn Tín.

Bởi ngoài chốn thiên nhai hung hiểm

Có gã mèo… “bất biến tùy duyên”

Trường kỳ mai phục… triền miên

Đợi chú chuột sơ hở, liền tấn công

 

Công danh: hẳn là không thành đạt

Xuất hành: nhiều thất bát hiểm nguy

Cầu hôn, cầu tự chi chi

Gặp quẻ đại bĩ chẳng gì nên công!(1178)

Toàn bộ lợi nhuận của công ty cổ phần Đại Nam không chia cho cổ đông. Lợi nhuận sau khi tái đầu tư, công ty sẽ dành 100% lợi nhuận còn lại cho quỹ từ thiện Hằng Hữu hoạt động vì cộng đồng, đặc biệt là chương trình mổ tim dành cho trẻ em