Long Hoa Trẩy Hội - Quyển 6

Long Hoa Trẩy Hội - Quyển 6

 Quyển Sáu

 

Quẻ ba trăm hai sáu (326)

Thư trung hữu nữ nhan như ngọc

Thư trung tự hữu hoàng kim ốc

Độc tận ngũ xa thư

Chí nguyện tự năng túc

Hà tất tiêu lao

Tâm trung mang lục

 

Trong thư vốn sẵn người như ngọc

Lại sẵn cả lầu vàng gấm vóc

Đọc suốt sách năm xe (10)

Chí nguyện thừa ngang dọc

Việc gì trí phải phiền

Việc gì tâm phải nhọc

 

Kẻ sĩ đã làu thông nghĩa sách

Ắt biết rằng trong sách, có thư

Ngọc nhan, kim ốc có dư

Đã dư kim ngọc, lại thừa lược thao*

 

Mà khi đã dồi dào tài, lực

Hỏi việc chi còn bực, còn phiền

Sao không đứng thẳng người lên (20)

Mà hô phong hoán vũ, nên anh hào?

 

*"Lược thao" cũng gọi là"Lục thao, Tam lược". Ðây là hai bộ sách thuộc về binh pháp cổ Trung Hoa.

"Lục thao"do Khương Thượng tự Tử Nha, cũng gọi là Lữ Vọng hay Khương Thái công, người đời Thương- Châu (1134- 247 trước DL) làm ra. "Tam lược" tương truyền là bộ sách của Hoàng Thạch Công, người đời Tan- Hán (221 trước DL 196 sau DL) biên soạn.

Công danh: phải trải bao đèn sách

Mới nên công hiển hách một khi

Xuất hành: gắng gỏi vinh quy

Cầu hôn, cầu tự: việc gì cũng xong

 

Quẻ ba trăm hai bảy (327)

Báo biến thành văn thái

Thừa long phúc tự trăn

Xích thân thành phú quý

Sự sự khả hề tân”(30)

 

Da báo trổ hoa văn

Cưỡi rồng phúc thiện căn

Tay trắng nên phú quý

Ấy nhờ khéo cách tân

 

Người coi quẻ như lân gặp pháo

Lai như tuồng da báo đơm hoa

Cưỡi rồng, ấy phúc nhà ta

Thiện căn kiếp trước hóa ra bây giờ

 

Nước lã vã nên hồ mới quý

Tay trắng làm nên dễ mấy ai (40)

Rõ người có đức có tài

Lại thêm quả phúc láng lai cội nguồn

 

Lại có bí quyết luôn đổi mới

Luôn cách tân cơ hội trị bình

Vẻ vang trong chốn gia đình

Lại thêm trong chốn triều đình càng vui

 

Công danh: hẳn mười mươi hiển đạt

Thảy thảy đều thượng cát tròn vuông

Một phen tỏ mặt phi thường

Anh thư, hào kiệt đường đường trượng phu (50)

 

Quẻ ba trăm hai tám (328)

Cô dương vi hề

Quần âm đạo hề

Lực kí đàn hề

Tương bất khả mạo hề

Chẩn cẩn thận hề

Nghi khả bảo hề

 

Dương đơn chiếc suy tàn

Âm đông đảo tràn lan

Sức cùng thêm lực kiệt (60)

Tuổi thọ luống mơ màng

Giữ chân nguyên cẩn thận

Ắt sẽ đặng bình an

 

Cô dương khó địch quần âm đặng

Ta giữ mình cho trắng, cho trong

Một khi trắng dạ, trong lòng

Ắt là dương khí lại thong dong về

 

Đạo là thế! tâm kia trong trắng

Ắt khí dương ngay thẳng hồi sinh

Phục hồi sức sống tâm linh (70)

Khiến cho thọ phúc khang ninh thêm dài

 

Một lời quẻ nhắn ai gặp quẻ

Mau hồi đầu đáo bĩ ngạn kia

Phúc họa, thọ yểu đôi bề

Mỗi do tâm thức tỉnh, mê đôi đàng

 

Công danh: luống lỡ làng vận hội

Xuất hành: trăm bối rối khó khăn

Cầu tài: đồng được, đồng chăng

Cầu hôn, cầu tự: luống bằng số không

 

Quẻ ba trăm hai mươi chín (329)(80)

Hiểu vũ sơ tinh ánh bích khuê

Trùng trùng xuân sắc thượng sài phi

Hoàng kim bất tận gia ân phú

Hà tất khu khu tiễn cẩm y

 

Mưa sớm tạnh chiếu khe xanh

Trùng trùng xuân ý, long lanh sườn đèo

Rừng vàng bể bạc phong nhiêu

Khỏi cần áo gấm ra điều ta đây!

 

Ýquẻ rõ lắm thay: tài vận

Khéo hanh thông, bất tận phúc phần (90)

Y như suối biếc mùa xuân

Sau mưa sớm cảnh muôn phần tốt xinh

 

Đã tài vận phồn vinh như thế

Như vàng rừng bể bạc khác chi

Miễn cầu áo gấm vinh quy

Mua danh ba vạn, bán đi ba đồng

 

Công danh: hẳn là không thuận lợi

Xuất hành: tài lộc tới liền tay

Cầu hôn: được bạn vàng ngay

Cầu tự: sinh rày quý tử hoàng kim (100)

 

Quẻ ba trăm ba mươi (330)

Thế đạo đa kinh cức

Nhân tình mỗi dụng ta

Lợi danh các hữu lộ

Cần khổ toại sinh nhai

 

Đường thế lắm chông gai

Nỗi nhớ ngắn than dài

Lợi danh đôi nẻo ấy

Cần khổ khéo sinh nhai

 

Người gặp quẻ miệt mài cần khổ (110)

Nợ áo cơm, luống đổ mồ hôi

Đường danh nẻo lợi lôi thôi

Cần cù lao động… phận tôi thủ thường

 

Ở hiền được trời thương ban phước

Chữ khang ninh thọ cực tròn vuông

Chông gai chuyện ấy thế thường

Than dài thở vắn tấn tuồng xưa nay

 

Công danh: chẳng mây rồng gặp hội

Xuất hành: trăm diệu vợi chông gai

Cầu tài: lợi chẳng bằng ai (120)

Cầu hôn cầu tự: luống hoài công lênh

 

Quẻ ba trăm ba mươi mốt (331)

Sơn cùng lộ chuyển mê

Thủy cấp chu nan độ

Vạn sự mạc cưỡng vi

Xuất xứ tao nan đố

 

Núi cùng, đường lạc nẻo

Nước biếc khó dong thuyền

Tranh nỗi đời lắc léo

Lắm kẻ ghét người ghen (130)

 

Người gặp quẻ đang cơn cùng quẫn

Khác chi nơi thủy tận, sơn cùng

Cảnh đời lắm nỗi lao lung

Phải lo liệu để vượt khung đoạn trường

 

Cái kịch bản đời thường nó thế

Mối tỵ hiềm quan hệ nhân sinh

Ghen tuông là chuyện thường tình

Trâu cột ắt phải bất bình trâu ăn

 

Nên kế sáng phải năng tránh tối

Né mình ra khỏi mối ghen tuông (140)

Cội nguồn của mọi tai ương

Trường danh chợ lợi máu xương hãi hùng

 

Công danh: miếng đỉnh chung khó kiếm

Xuất hành: thêm miệng tiếng gièm pha

Cầu hôn, cầu tự: còn xa

Tu thân chưa vẹn tề gia khó tròn

 

Quẻ ba trăm ba mươi hai (332)

Thời biến đa nan

Chiến chiến căng căng

Giới cẩn khủng cụ (150)

Như ý bạc băng

Tu thức tường trình nguy dữ hiểm

Nhất lung phong lý nhất chi đăng

 

Cảnh tình gian nan

Trăm mối lo toan

Đi trên băng giá

Sợ chừng băng tan

Ngọn đèn trước gió

Dễ chi an toàn?

 

Người gặp quẻ đang cơn bĩ vận (160)

Nỗi đa nan lấn cấn bước đường

Đi trên băng: thật khó lường

Chỉ e bước động, băng tan: chết chìm!

 

Ấy cũng bởi do nền chẳng vững

Hỏi lấy gì bảo chứng tương lai

Muốn cho phúc phận lâu dài

Phải tu nhân, tích đức hoài mới nên

 

Ngọn đèn trước gió thêm lay lắt

Lo cho ai bói gặp quẻ này

Bởi chân phúc mỏng họa dày (170)

Chẳng lo xa, ắt có ngày mạng vong!

 

 

Công danh khéo long đong mỗi bước

Xuất hành: khôn gặp được điều hay

Cầu tài: lợi chẳng vào tay

Cầu hôn, cầu tự: khó thay ước nguyền!

 

Quẻ ba trăm ba ba (333)

Nhất đóa hoa chi diễm cánh phương

Thanh hương phức uất thấu lan phòng

Thời phong suy tống chung thành tiếu

Hảo cú đương tiền tiến kỷ thương”(180)

 

Một đóa hoa xuân đẹp lạ thường

Phòng lan thơm ngát, ý thanh hương

Gió đưa gió đẩy hoa cười nụ

Nâng chén vui mừng chúc hỷ khương

 

Người gặp quẻ cát tường (đại cát)

Bước công thành danh đạt nguy nga

Tiệc vui kiều diễm xuân hoa

Bỏ công mài dũa, xông pha một thời

 

Mọi sự mưu đồ thôi khỏi tính

Quan, hôn đều tuyệt đỉnh cao sang (190)

Tròn phú quý thọ ninh khang

Tam đa ngũ phúc rỡ ràng lâm môn

 

Quẻ ba trăm ba bốn (334)

Tự tòng trì thủ định

Công tại chúng nhân tiên

Biệt hữu phi thường hỉ

Tùy long đáo Cửu Thiên

Thế thủ đã vững bền

Công lênh thêm vững vẹn tuyền

Mừng ấy phi thường hỉ (200)

Theo rồng tới Cửu Thiên

 

Người biết tự giữ mình công kỹ

Đoạt công đầu ắt chỉ mình thôi!

Trong thủ sẵn có công rồi

Thủ tròn, công sẽ mười mươi vuông tròn

 

Từ cái ý tu thân (là thủ)

Phát triển ra phong phú trị, bình

(Là công) phổ độ quần sinh

Gẫm công với thủ như mình với ta!

 

Ai chưa thủ xong mà công vội (210)

Có khác chi mây nổi- phù vân!

Chỉ là công quả lông bông

Dễ chi nối gót theo rồng Cửu Thiên!

 

Công danh là dĩ nhiên hiển đạt

Xuất hành: là đại cát –dĩ nhiên!

Cầu hôn, cầu tự như nguyền

Tranh tụng: tất thắng, dẫu nguyên, bị gì!

 

Quẻ ba trăm ba lăm (335)

Viễn thiệp ba đào nhất diệp chu

Nhi kim thủy đắc quá than đầu (220)

Niên lai tâm sự tài thành tựu

Khuất chỉ tòng tiền đa khả ưu

Một lá thuyền con vượt thác ghềnh

Mây vừa qua khỏi bước lênh đênh

Sang năm còn lắm điều tâm sự

Tính lại chưa tròn chữ nỗi nên

 

Người gặp quẻ bao phen viễn thiệp

Một thuyền nan chi xiết ba đào

Vừa qua một cuộc gian lao

Ngước nhìn phía trước còn bao nổi chìm (230)

 

Số đã chẳng đặng yên như thế

Phải lo tu đạo thế mới xong

Tâm bình: biển lặng, trời trong

Tâm loạn: bước bước long đong thế đồ!

 

Long Hoa hội đang chờ ta đó

Quẻ Khổng Minh dẫn độ bước đường

Dặn rằng trong lý âm dương

Cái tâm thái cực chủ trương ba nghìn

 

Công danh: mới vừa yên chút phận

Xuất hành: còn lận đận thời cơ (240)

Cầu hôn: cá nước duyên ưa

Cầu tự: ắt có kế thừa một khi

Quẻ ba trăm ba mươi sáu (336)

Thụ quân chi lộc

Cửu giáng trinh tường

Doanh nhi bất phúc

Thủ chi nãi xương

Vô đãi vô kiêu

Vĩnh bảo an khang

Hưởng lộc vua ban (250)

Bền chắc vững vàng

Đầy mà chẳng đổ

Khéo gìn đặng an

Không kiêu không biếng

Ơn trời chứa chan

 

Người gặp quẻ đương thời thịnh đạt

Được ơn vua lộc nước phong nhiêu

Ấy nhờ công sức bao nhiêu

Thì nhờ tín hạnh bấy nhiêu góp phần

 

Thói thường kẻ có công hay cậy (260)

Cậy tài này sức ấy hung hăng

Vào ra bảnh chọc lung lăng

Nhìn người trước mắt chỉ bằng nửa ngươi

 

Thói kiêu hợm khiến người chán ghét

Người ghét rồi, lộc hết đường vô

Cho nên vinh nọ nhường phô

Cho nên phúc nọ nhường cho họa này

 

Lời quẻ nhắc muốn đầy chẳng đổ

Phải giữ tâm năng nỗ báo đền

Một khi thuận dưới hòa trên (270)

Ắt là phúc lộc vững bền xuân thu

 

Công danh: hẳn đương mùa trẩy hội

Xuất hành: vui nhịp với tương lai

Cầu tài: lợi lộc không sai

Cầu hôn, cầu tự: một hai vẹn nguyền

Quẻ ba trăm ba bảy (337)

Vạn sự bất do nhân kế liệu

Nhất sinh tận thị mệnh an bài

Mạc nghi sai

Mệnh lý hữu thời tổng hữu phận (280)

Hà tu lục lục hỗn trần ai

Hưu tai!

 

Vạn sự há do người định

Một đời sẵn mệnh an bài

Đã hay chẳng phải do mình tính

Hà tất còn bươn bả mệt nhoài?

Dừng đi thôi!

Quẻ nhắc nhở những người bĩ vận

Rằng ai ơi! Định phận do thiên

Một khi quả báo nhãn tiền (290)

Vùng vằng cho lắm càng thêm nhọc nhằn

 

Nhưng mệnh trời ví chăng mà có

Cũng từ nhân quả nọ mà ra

Ở lành phúc đến cùng ta

Ở ác họa đến chẳng ngoa tí nào!

 

Công danh: chớ nôn nao rách việc

Xuất hành: cần tính thiệt so hơn

Cầu tài, cầu tự, cầu hôn

Thảy đều dở dở ,ương ương -khó thành!

 

Quẻ ba trăm ba tám (338)  (300)

Nhất phiến ưu tâm vị khẳng hưu

Hoa phùng xuân vũ diễm nan lưu

Đắc ý quy hưu

Thất ý quy hưu

Tiên gia chỉ thử nhất trù mưu

 

Ưu tâm một phiến mãi còn vương

Hoa gặp mưa xuân nhạt sắc hương

Đắc, thất- thảy nên dừng bước lại

Tiên gia đã dạy chớ xem thường!

 

Lời tiên gia tỏ tường như thế (310)

Đắc, thất kia vốn dĩ đều không

Cho nên bí quyết thần thông

Ấy là học được chữ dừng mới nên

 

Khi dừng được chớ quên dừng lại

Dừng: ấy là Đạo Phải, Đạo Ngay

Quang Minh Chính Đại: Đạo này

Đạo Tiên, Đạo Thánh- xưa nay Đạo người

 

Biết dừng lại ắt đời bớt khổ

Cũng như mình bớt khổ bớt đau

Trăm năm trong cuộc bể dâu (320)

Biết dừng lại ắt thoát câu đoạn trường!

 

Công danh: đã lỡ làng giấc mộng

Xuất hành: thêm lóng cóng bước chân

Cầu tài: như thể phù vân

Cầu hôn, cầu tự: luống công mưu cầu!

Quẻ ba trăm ba mươi chín (339)

Lưỡng nữ nhất phu

Thượng hạ tương khư

Âm khí thừa dương

Dụng thị hao hư”(330)

 

Hai gái một chồng

Trên khắc dưới xung

Dương suy âm thịnh

Mỏi mòn nguyên chân

 

Tục ngữ nói: đàn ông một vợ

Nằm giường lèo: hai vợ chèo queo

Ba vợ: ra nằm chuồng heo!

Ấy là do lẽ ít, nhiều không cân

 

 

Huống nữa âm với âm tương đố

Vợ cả, vợ hai khó “nên chương”(340)

Chồng chung chưa dễ ai nhường

Cho nên một bãi chiến trường tất nhiên!

 

Lại huống nữa: chân nguyên khó giữ

Biết lấy chi đáp đủ trao vừa

Khuyên ai thấu rõ thiên thư

Phải nên nhớ lấy chữ Như trên đầu!

 

Công danh: luống dãi dầu xuôi ngược

Xuất hành: khôn gặp được hanh thông

Cầu tài: tay lại hoàn không

Cầu hôn, cầu tự: chẳng mong toại nguyền (350)

 

*Lóng cóng: (chân tay) ở trạng thái cử động khó khăn, vụng về như bị tê cứng lại

Quẻ ba trăm bốn mươi (340)

Song yến quy nam quốc

Lai tầm Vương, Tạ gia

Hoa đường xuân nhật tĩnh

Tạo thử thác sinh nhai

 

Đôi chim én về Nam

Tìm đến nhà Vương Tạ

Lầu hoa đẹp ý xuân

Yên thân còn ấm dạ

 

Người gặp quẻ khá tìm chỗ tựa (360)

Về Phương Nam ấm lửa thơm hương

Quý nhân sẵn có cao đường

Khác chi họ Tạ họ Vương một thời

 

Có những kẻ đội trời đạp đất

Vui niềm vui tự lập tự do

Riêng mình chớ khá đắn đo

Cứ tìm chốn sẵn lòng cho cậy nhờ

 

Ấy định mệnh đang chờ ta đó

Sẵn niềm thương bến nọ bờ kia

Rõ ràng thân phận “cư thê”(370)

Việc chi không hưởng những gì trời ban

 

Công danh: sẵn người đang giúp đỡ

Xuất hành: đang sẵn chỗ cưu mang

Cầu tài: nên cậy bạn hàng

Cầu hôn, cầu tự: vẹn toàn ước mơ

 

Quẻ ba trăm bốn mốt (341)

Vận mệnh kiển hề thái vi

Tai ương cập hề thân bì

Vọng hoàng thiên hề bất cố nhã

Ta ngã thân hề bệnh tư nguy”(380)

 

Vận mệnh sao mà quá hẩm hiu

Tai ương thân gặp đủ trăm điều

Vọng trời xanh hỏi niềm thương xót

Bệnh viếng song thân, lúc tuổi chiều

 

Người gặp quẻ đang chiều suy sụp

Ngoài tự thân bệnh tật, còn thêm

Song thân bệnh tật triền miên

Hai vế lão bệnh luân phiên quấy rầy

 

Bốn vế khổ khổ này nặng nhất

Một khi thân bệnh tật còn chi (390)

Giàu sang danh vọng làm gì

Một đám mây nổi vân vi giữa trời

 

Khuyên ai đó sớm hồi đầu vậy

Lẽ vô thường phải thấy cho sâu

Thân này há dễ còn lâu

Hạt sương phơ phất bông lau lập lòe

 

Tâm hãy sớm quay về chánh đạo

Để thấy thân: tấm áo mặc ngoài

Qua rồi một kiếp trần ai

Áo kia cởi bỏ… hình hài sắc không (400)

 

Công danh, xuất hành: cùng trở ngại

Tranh tụng: nên bãi nại là may

Cầu hôn, cầu tự, cầu tài

Vận cùng, chẳng đặng mảy may phúc phần

 

 Quẻ ba trăm bốn mươi hai (342)

Thái dược thiên đài lộ chuyển mê

Đào hoa ngoạn thủy phú giai kỳ

Xuân phong đề điểu đa tình tứ

Kỳ ngữ Lưu Lang thả mạc quy

 

Hái thuốc thiên đàng luống mỏi mê (410)

Đào nguyên, may gặp đặng hiền thê

Gió xuân chim hót trăm tình tứ

Nhắn hỏi Lưu Lang chớ vội về

 

Người gặp quẻ số kia bay nhảy

Chốn thiên nhai tìm thấy thiên nhai

Quê nhà củ sắn, củ khoai

Ra đi mới gặp sông dài, non cao

 

Đi một ngày đường, sao chẳng học

Một sàng khôn tỏ ngọc ngời châu

Lại còn, trên chốn quỳnh lâu (420)

Gặp cô tiên nữ ngõ hầu tri âm

 

Cái số đã định phần như thế!

Số gặp tiên- chi dễ chối từ

Tiệt nhiên định phận thiên thư

Thôi thì ta cứ tuyệt mù mây xanh!

 

Công danh đã sẵn dành viễn xứ

Xuất hành: hơn ru rú xó nhà

Cầu tài, cầu lộc: phương xa

Cầu hôn, cầu tự: cũng là viễn phương

 

Quẻ ba trăm bốn ba (343)  (430)

Xuất ôn nhập hàn

Bị bạc y đơn 

Khử ngã từ hàng

Nan giải hoành khiên

 

Xuân êm ấm, nhập lạnh lùng

Trăng đơn áo mỏng não nùng phận côi

Thuyền từ vượt khỏi tay rồi

Lấy chi giải thoát nỗi đời oan gia

 

Số thật lạ: đi ra thì ấm

Đi vào thì lấn cấn lạnh băng (440)

Nỗi này ai thấu cho chăng

Nội phương gẫm lại chẳng bằng ngoại phương

 

Người trong quẻ thuận đường xuất ngoại

Phương xa mà có ái có ân

Còn hơn ở cạnh ở gần

Nhất cận thân, nhì cận lân: thế mà!

 

Số đã định: đâu, ta cứ thử

Biết đâu nơi lữ thứ quê người

Mà không gặp đặng bạn đời

Duyên đâu kiếp trước gặp người hôm nay(450)

 

Công danh: hẳn tới ngày hiển đạt

Xuất hành: vui hãy gác thiên nhai

Cầu hôn, cầu tự, cầu tài

Thảy đều thành tựu ở ngoài phương xa

 

Quẻ ba trăm bốn bốn (344)

Tam thân tam khẩu

Phóng tại nhất đẩu

Mãn nhi dật

Tử tự đắc

 

Ba người, ba miệng (460)

Từ một đấu này

Đầy quá: tràn ngay

Tham nhiều, lắm chuyện!

 

Ý quẻ nói điều này: biết đủ

Đời khổ vì quá cỡ tham lam

Kiếp người sống được bao lăm

Mà lo vơ vét vàng trăm, bạc mười

 

Ba miệng ấy nực cười lắm kẻ

Mãi viễn mơ mãi trẻ không già

Nhưng ông Bành Tổ đâu cà?  (470)

Chẳng qua huyền thoại vậy mà… có đâu!

 

Ai nói chuyện phép mầu bất tử

Bao thần tiên thánh, tự ngàn xưa

Thảy đều hiện thực trong mơ

Còn trong hiện thực: có chừa ai đâu!

 

Nên phải nhớ lấy câu biết đủ!

Để biết dừng đi chứ! Mới ngoan!

Ai kia bể bạc rừng vàng

Còn ta ta cứ thênh thang cõi lòng!

 

Công danh: ắt thành công một nửa (480)

Xuất hành: vừa đủ chữ hanh thông

Cầu hôn, cầu tự bậc trung

Không hơn người lắm, cũng không kém người

 

Quẻ ba trăm bốn mươi lăm (345)

Thùy thuyết cố hương vô tư vị

Phiêu linh hồ hải tại thiên nhai

Nhiệm tư ta trung thu nguyệt ẩn

Xuân vũ lâm hoa

Đa tạ chinh nhân trường ức gia

 

Ai bảo cố hương không ý vị (490)

Phiêu linh hồ biển bốn phương xa

Xót cảnh trung thu trăng ẩn bóng

Mưa xuân phơ phất phủ ngàn hoa

Đa tạ chinh nhân nỗi nhớ nhà

Thương ai đó phương xa lưu lạc

Chạnh lòng quê bàng bạc mây thu

Đêm rằm tháng tám trăng lu

Lại sang xuân, trận mưa ru hoa sầu

 

Cảnh như giục niềm đau nhớ cội

Mái nhà xưa sớm tối hàn ôn (500)

Não nề tấc dạ thần hôn

Lạc bầy, cánh nhạn kêu sương não nùng

Công danh: hẳn là không thuận lợi

Xuất hành: trăm bối rối truân chuyên

Cầu tài chẳng đặng như nguyền

Cầu hôn: nên chọn gái hiền quê hương

 

Quẻ ba trăm bốn mươi sáu (346)

Vân tán nguyệt đương không

Ngưu tiền mã hậu phùng

Trương cung phương để ngự (510)

Nhất tiễn định toàn công

 

Mây tan, trăng tỏ giữa không gian

Trâu trước ngựa sau hợp một đàn

Mạnh dạn dương cung lên chống cự

Tên bay một phát, giặc liền tan

 

Người gặp quẻ tuy trong cảnh khó

Nhưng có vần trăng ló trong mây

Đối phương trâu ngựa hợp bầy

Chận đường ta cứ lòng này vững tin!

 

Giương cung cứng, buông tên một phát (520)

Mũi tên thần đánh bạc trùng vi

Mở con đường trống ta đi

Ấy nhờ cái đức tu mi kiên cường

 

Công danh: phải hai sương một nắng

Xuất hành: trăm nỗi đắng cùng cay

Cầu hôn, cầu tự, cầu tài:

Qua bao gian khó, một mai mới thành

 

*Truân chuyên: gian nan, vất vả

Quẻ ba trăm bốn mươi bảy (347)

Mã tiến từ hành tự hữu trình     

Nguyệt trầm tây hải nhật đông thăng (530)

Vận lai hà tất lao tâm lực

Phong tống giang hồ vạn lý thanh

 

Lỏng buông tay khấu, bước thong dong

Nguyệt lặn về Tây, nhật ló Đông

Vận đến, việc chi cần nhọc sức

Gió qua sông biển, thỏa tang bồng

 

Người gặp quẻ: vận hồng đã tới

Cái thiên thời nó mới xinh sao!

Lông bông tay khấu tiêu dao

Tha hồ dĩ dật đãi lao- tha hồ…(540)

 

Ấy là bởi chữ “thừa” chí diệu

Thừa thắng xông lên yếu quyết hay

Thừa thiên hưng vận khéo thay

Nương theo vận hội cho mây vươn rồng

 

Quẻ thương cát đẹp lòng kẻ sĩ

Bước mây rồng du hí vinh hoa

Hạt lành gieo tự trăm xa

Quả lành nay gặt, lẽ là đương nhiên!

 

Công danh: hẳn như thuyền thuận nước

Xuất hành: như rồng vượt xuân thiên (550)

Cầu tài: dư bạc dư tiền

Cầu hôn, cầu tự: thỏa nguyền xưa nay

 

*Dĩ dật đãi lao: lấy khỏe đối phó với mệt.. lấy mạnh thắng yếu

Quẻ ba trăm bốn mươi tám (348)

Vân hoành sơn tế thủy mang mang

Thập lý trường đồ vọng cố hương

Kiển ách sự lai quân mạc hận

Ỷ môn trù trướng lập tà dương

 

Mây trải non xanh nước bạt ngàn

Đường xa vạn dặm nhớ quê hương

Việc chi hận bước đời gai gốc (560)

Tựa cửa âm thầm ngắm tịch dương

 

Người gặp quẻ đương cơ vận bĩ

Bước tha hương gia dĩ tang thương

Những đau: Trăm nỗi đoạn trường

“Phần e đường sá, phần thương dãi dầu”

 

Đi mỗi bước, lòng đau mỗi bước

Bĩ vận kia dễ vượt Vũ môn

Phải nhờ Phật Pháp vô môn

Họa may mới đặng tỏ tường Long Hoa

 

Công danh: khéo lê la ngõ tối (570)

Xuất hành: thêm bối rối gai chông

Cầu tài: ít có, nhiều không

Cầu hôn, cầu tự: chẳng trông đợi gì!

 

*Vũ môn: Vũ:vua Hạ Vũ khai sáng ra nhà Hạ vào thời thượng cổ nước Tàu. Môn: cái cửa.

Vũ môn là cái cửa do vua Hạ Vũ lập ra ở sông Hoang Hà, tại đây có một cái mỏm đá nhô ra hình giống như cái cửa. Khi vua Hạ Vũ trị thủy thì đục phá cái mỏm đá sâu rộng thêm ra, để thông đường nước chảy, và gọi nó là Vũ môn.

Theo sách Tam Tần Ký và Thủy Kinh Chú, Vũ môn thường có sóng dữ và nước rất sâu. Hằng năm vào tiết tháng ba, các thứ cá chép tụ về đây để thi vượt qua Vũ môn, con nào nhảy qua khỏi Vũ  môn thì hóa thành rồng.

Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí, Vũ môn có ở nước ta tại núi Khai Trướng (núi Giăng màn) thuộc huyện Hương Khê tỉnh Hà Tỉnh. Đây là dòng suối lớn có ba bực, phía dưới là vực sâu. Tương truyền, hằng năm đến tháng 4 âm lịch thường có mưa to, nước nguồn chảy xiết, vào ngày mùng 7 cá chép tụ hội về đây rất đông để thi nhảy vượt Vũ môn, con cá chép nào nhảy khỏi ba bực thì hóa thành rồng.

 

*Gia dĩ: hơn nữa, thêm nữa

Quẻ ba trăm bốn mươi chín (349)

Phong ba kim dĩ tức

Chu tiếp ngộ an lưu

Tự thử công danh toại

Hà tu thán bạch đầu

 

Phong ba giờ đã lặng

Thuyền thuận mái, xuôi mau (580)

Công thành, danh cũng toại

Than chi nỗi bạc đầu?  

 

Người gặp quẻ đã qua tai ách

Đã tới thời hiển hách công huân

Thiên thời địa lợi giao thân

Nhật tân, hựu nhật tân- lẫy lừng!

 

Há tiếc nỗi ngày chừng đã xế

Hoàng hôn rồi, chi dễ bình minh

Một phen thỏa chí bình sinh

Thì dù sớm, muộn cũng xinh một đời!(590)

 

Công danh: phúc lộc ngời hậu vận

Xuất hành: từng bước thuận tương lai

Cầu tài: thêm tuổi, thêm tài

Cầu hôn, cầu tự: một hai như nguyền!

 

Quẻ ba trăm năm mươi (350)

Dĩ đáo bình an địa

Giang san vạn lý trình

Lục dương phương thảo địa

Phong khoái mã đề khinh

Đường đất đã an vui (600)

Giang sơn vạn dặm ngời

Cỏ thơm, dường liễu biếc

Vó ngựa tung gió cười…

 

Thời vận đã tuyệt vời tung tẩy

Bước tang bồng vùng vẫy chí trai

Ở nhà chẳng đặng bằng ai

Ra đi, chốn chốn thiên nhai lẫy lừng

 

Khuyên ai chớ khá dừng bước lại

Bước tương lai ở tại tha phương

Cỏ thơm, liễu biếc thiên trường (610)

Dựng xuân cảnh, đón bước đường xuân du

 

Thời vận tới chỉn chu sự nghiệp

Làm chơi mà ăn thiệt- tài ba!

Như người cưỡi ngựa xem hoa

Vây nên, nên cửa, nên nhà mới hay!

 

Công danh: rõ rồng mây gặp hội

Xuất hành: nên chọn lối phương xa

Cầu tài: như gấm thêu hoa

Cầu hôn, cầu tự: mặn mà phúc duyên

 

Quẻ ba trăm năm mươi mốt (351)  (620)

Điêu ngạc đương thu thế chuyển hùng

Thừa phong phân dực đáo thiềm cung

Vinh hoa nhược vấn tương lai sự

Tiên hậu danh thanh đạt cửu trùng

*Cưỡi ngựa xem hoa: Muốn nói đến lối làm việc chỉ lướt qua một cách đại khái chứ không đi sâu vào chi tiết trong khi thực chất việc đó đòi hỏi phải xem xét, tìm hiểu kỹ.

Đại bàng, Ó biển… thế oai hùng

Tan mây cưỡi gió vượt thiên cung

Vinh hoa ví nơi về mai hậu

Ắt lập công huân thấu cửu trùng!

 

Người gặp quẻ vô song quý hiếm

Hoặc cao nhân bản lĩnh siêu phàm (630)

Hoặc như người của nhân hoàn

Thì tài sức cũng đảm đang hơn người

 

Người giỏi lại gặp thời hưng vận

Hẳn là vươn lên tận mây xanh

Bảng vàng bia đá đề danh

Nghìn thu công đức riêng dành tấc son

 

Công danh: hẳn trên đường hiển đạt

Xuất hành: thượng thượng cát đương nhiên

Cầu tài: lắm bạc lắm tiền

Cầu hôn, cầu tự: phỉ nguyền xưa nay (640)

 

Quẻ ba trăm năm mươi hai (352)

Thử vi hoạn

Chung tiêu bất đắc ninh

Miêu nhi nhất khiếu

Kỷ dạ thái bình

Nhân khởi thức như thú

Kỳ lý thậm phân minh

 

 

 

 

*Phỉ nguyền: thỏa lòng mong mỏi

Chuột phá thâu đêm ngủ chẳng yên

Mèo kêu một tiếng chuột ngưng liền

Mới hay người quả hơn loài vật (650)

Thấu rõ đầu đuôi lý tự nhiên

 

Ý quẻ nói tà khôn thắng chánh

Lũ chuột kia không sánh được mèo

Chỉ cần một tiếng mèo kêu

Tập trung chánh nghĩa hải triều âm vang

 

Lũ chuột nọ teo gan vỡ mật

Nằm êm ru bất cục cựa ngay

Mới hay chánh khí đến hay

Một phen chánh trực dẹp bay gian tà!

 

 

Mà chánh nghĩa ắt là Tam Giáo (660)

Phật- Lão- Nho dẫn đạo quần sanh

Con người sở dĩ văn minh

Là nhờ Phật tánh sẵn dành trong tâm

 

 

Công danh: có quý nhân phò trợ

Xuất hành: nhờ bạn đở bè nâng

Cầu tài: đắc lợi vài phân

Cầu hôn, cầu tự: đặng phần về sau

 

Quẻ ba trăm năm mươi ba (353)

Lưỡng nhân tại bàng

Thái dương tại thượng (670)

Chiếu nhữ nhất thốn tâm

Tiên cơ tằng phủ minh

*Tam Giáo chỉ đến ba truyền thống tôn giáo có ảnh hưởng lớn mạnh trong các nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa. Tam giáo gồm có: Nho giáo: còn gọi là đạo Khổng; Phật giáo; Lão giáo

Hai người hai bên

Vầng hồng soi giữa

Tấc dạ trung kiên

Thần cơ rỡ rỡ

Hai người ở hai bên chẳng khác

Thần thiện và thần ác trong thân

Lương tri tỏ mặt vầng hồng

Chiếu soi thường trực lương tâm con người (680)

 

Người giữ đạo một đời trung chính

Ắt được ơn trời định phần cho

Có đức mặc sức mà no

Vô đạo mặc sức mà lo với phiền

 

Người gặp quẻ khá nên tự xét

Ở ăn sao cho đẹp với lòng

Trên đầu có một vầng hồng

Sơ nhị bất lậu” chớ hòng dối gian

 

Công danh: hẳn vẻ vang thành tựu

Xuất hành: nhờ tả hữu đỡ nâng (690)

Cầu tài: lộc đặng chung phần

Cầu hôn, cầu tự: mười phân vẹn nguyền

 

Quẻ ba trăm năm mươi bốn (354)

Quân tử đạo tiêu

Tiểu nhân đạo trường

Âm khí uất uất

Dương khí bất dương

Như hà, như hà?

Lương cổ thâm tàng

Đạo quân tử tiêu vong (700)

Đạo tiểu nhân bành trướng

Khí âm hàn mênh mông

Khí dương khôn thạnh vượng

Tính sao vẹn mọi đường

Khéo ẩn tàng chân tướng

 

Lẽ trời đất muôn đời như thế

Âm thịnh thì dương khí phải suy

Đạo người quân tử suy vi

Liệu cơ mà ẩn tàng đi mới là

 

Như sông Thương nước mà trong vắt (710)

Thì ta thừa cơ giặt mũ ta

Như sông Thương đục phù sa

Thì ta lội xuống để mà rửa chân!

 

Âm đã thịnh, dương mà né tránh

Chả hoài công tranh cạnh với người

Phụng kia tung cánh đọ trời

Việc chi tủn mủn đua bơi với gà!

 

Công danh: chửa gặp mà thời vận

Xuất hành: nên đình hoãn bon chen

Cầu tài: chẳng đáng bõ bèn (720)

Cầu hôn, cầu tự: đòi phen chẳng thành

 

*Sơ nhi bất lậu: Sơ:thưa. Nhi: mà. Bất: không. Lậu: lọt ra ngoài. Sơ nhi bất lậu: thưa mà không lọt qua được.

Quẻ ba trăm năm mươi lăm (355)

Khứ đáo tràng an

Đông bắc chuyển giác

Phùng trước thiên môn

Tiện hữu hạ lạc

 

Xuống thẳng Trường An

Rẽ qua Đông bắc

Tìm đến thiên môn

Hỏi han sẽ gặp (730)

 

Quẻ nhắc nhở người đang gặp quẻ

Hãy tìm đường đến chốn thành đô

Hướng đông bắc đẹp thời cơ

Ấy nơi có kẻ ta mơ trùng phùng

 

Hoặc có vật ta mong tìm kiếm

Hoặc cơ may thực hiện bản hoài

Tràng An cung điện lâu đài

Huệ lan sực nức, trúc mai vui vầy

 

Chữ nói đi một ngày đàng nọ

Học một sàng khôn đó, chẳng ngoa!(740)

Số mình đã thuận đường xa

Hướng Đông bắc, ắt tìm ra vật tìm

 

Quẻ ứng thế chớ nên lần lữa

Xuất hành ngay, gặp thửa công danh

Cầu hôn: đến chốn đô thành

Ắt là gặp đặng duyên lành phu thê

 

Quẻ ba trăm năm mươi sáu (356)

Từ bộ nhập thiên thai

Vị kiến hảo tiêu tức

Thái dược hữu tiên đồng (750)

Động phủ liệt xuân sắc

 

Lần bước tới thiên thai

Nghe vài tin tức đẹp

Tiên đồng vui hái thuốc

Động phủ sắc ngời xuân

 

Hiển nhiên quẻ mười phân thịnh cát

Tới thiên thai: phúc lạc tròn đầy

Tiên đồng hái thuốc đâu đây

Cõi tiên lại sẵn thuốc hay cho mình

 

Quẻ ấy, quẻ khang ninh thọ phúc (760)

Ngời sắc xuân thêm lộc trời cho!

Việc gì còn đắn còn đo

Chẳng mau mau trẩy chuyến đò đào nguyên!

 

Công danh: hẳn trọn nguyền cá nước

Xuất hành: đang đẹp bước rồng mây

Cầu tài: lợi nhuận đầy tay

Cầu hôn cầu tự: vẹn thay ước nguyền

 

Quẻ ba trăm năm mươi bảy (357)

Tư lượng nhất dạ

Bất như đả cán nhất phiên (770)

Nhược hoàn thác

Phiền cấp phế can

Say tỉnh một đêm

Sao bằng thử liều một ván

Lỡ cơ hội nhãn tiền

Phiền não dài năm tháng

 

Quẻ khuyên người đang cơn nan giải:

Tiến hay lùi, phải, trái nên theo!

Cảnh tình rối rắm bao nhiêu

Trăm điều lưỡng lự, nghìn điều phân vân (780)

 

Trước tình cảnh bất phân như thế

Quẻ khuyên ta chuyển nghĩ sang làm

Thà liều một chuyến cho cam

Còn hơn thúc thủ để càng thiệt thân!

 

Người ta khổ vì phân vân mãi

Không một lần “đứng dậy mà đi”

Phân vân, lưỡng lự ích gì

Một phen quyết đoán có khi công thành!

 

 

Công danh: hãy tiến hành gấp gấp

Xuất hành: đừng để mất thời cơ (790)

Cầu tài: lợi nhỏ lộc vừa

Cầu hôn, cầu tự: kể như khó thành

 

 

 

 

 

 

 

*Thúc thủ: [từ cũ] bó tay, đành bất lực, không làm gì được.

Quẻ ba trăm năm mươi tám (358)

Tâm tế đảm thô

Khả thắng thượng tướng chi nhiệm

Dũng vãng tiền hành

Bại hà tất tại tâm

Hung trung bả trì đắc định

Địch nhân tự năng thụ khốn

 

Tâm mà tế, đảm mà thô (800)

Ấy rằng trí dũng có thừa, đó chi!

Xông pha chiến trận hiểm nguy

Đánh cho tan tác một khi quân thù

 

Ý quẻ nhắc đến người thao lược

Đủ tài năng một bước nên danh

Vượt qua gian khó đấu tranh

Coi thường thành bại, tâm bình trí cao

 

Người như thế khó nào chả vượt

Chướng ngại nào không bước qua nhanh

Đông Tây mặc sức tung hoành (810)

Bảng vàng bia đá để danh một thời

 

Công danh: hẳn ngời ngời trí dũng

Xuất hành: tiên liệu đúng thời, phương

Cầu tài, cầu tự, cầu hôn

Thảy đều kết quả đẹp hơn trung bình

 

Quẻ ba trăm năm mươi chín (359)

Thiên niệm khổ tu nhân

Chung bất lạc hồng trần

Thanh tâm năng kiến đạo

Nhiễu nhiễu táng chân linh”(820)

Trời thương khổ tu nhân

Nên xa lánh bụi trần

Thanh tâm thường thấy đạo

Vẩn đục lấy gì chân

 

Người khổ tu được trời thương tưởng

Lẽ công bằng lý thượng đế sâu

Bụi trần xa lánh bấy lâu

Ắt là tỏ được gương mầu chân như

Thanh tâm bắt gặp đạo Từ

Long Hoa thắng hội kể như cận kề (830)

 

Từ tục đế chuyển về đạo đế

Thái cực kia hồ dễ uy nguyên

Thế mà! Một thoáng “vô duyên”

Hồi đầu ắt đáo ngạn liền một khi!

 

Thanh tâm thiểu dục thì thấy đạo

Thấy đạo thì bước dạo Long Hoa

Ta về ta tắm ao ta

Nụ cười Di Lặc mặn mà đương lai

 

Công danh: chẳng miệt mài danh vọng

Cầu tài: đâu còn bóng kim ngân (840)

Cầu hôn, cầu tự: vô tâm

Lục căn đã lặng, lục trần còn chi!

Quẻ ba trăm sáu mươi (360)

Bộ hủy ư uyên

Cầu ngư ư sơn

Tòng triều chí mộ

Công phụ lực tổn

Cải huyền dịch triệt

Thứ khả đồ toàn

 

Săn tê dưới vực (850)

Câu cá trên non

Phí công, toi sức

Sáng sớm chiều hôm

Thay dây, đổi trục

Ắt toàn vẹn hơn

 

Người gặp quẻ rõ đương lầm lỡ

Xuôi ngược đều dở dở ương ương

Cá nào cá ở trên non

Tê nào tê ở dưới nguồn vực sâu

 

Luống săn với luống câu vô ích (860)

Trải bao phen kinh lịch dở dang

Khuyên ai tỉnh giấc mơ màng

Thay dây, đổi trục mới toan đúng đường

 

Đường đã đúng, ắt chương sử mới

Của đời ta sẽ tới bờ kia

Vực sâu, câu được cá về

Non cao, săn được con tê giác này!

 

*Kinh lịch: từng trải

Công đúng hướng, quả này mới đạt

Quả cát tường, an lạc Long Hoa

Ta về ta tắm ao ta (870)

Nụ cười Di Lặc thắm tòa đương lai

 

Công danh: đổi hướng rày mới đạt

Xuất hành: nên xuất phát đúng phương

Cầu tài: vô vọng, Cầu hôn

Phải mau thay đổi đúng phương mới thành!

 

Quẻ ba trăm sáu mốt (361)

Thủ trì nhất mộc ngư

Diên nhai khứ hóa mễ

Bất kiến từ công lai

Khước ngộ nhất điểu khứ”(880)

 

Tay cầm một mõ gỗ

Dọc đường quyên gạo tiền

Chẳng gặp ai bố thí

Chỉ thấy cánh quạ đen

 

Ý quẻ nói rằng người gặp quẻ

Gia vận không suôn sẻ chút nào

Tha hồ tiếng mõ thấp cao

Chẳng một ai trở hồ bao cúng dường

 

Chỉ một nỗi trên đường khuyến hóa

Cánh quạ đen: đều quá đỗi xui (890)

Cảnh tình đen thủi đen thui

Thiên thời địa lợi: hỡi ơi nhân hòa!

 

Ấy cũng bởi đời ta thiếu đức

“Có đức thì mặc sức mà ăn!”

Nên dù mộc đạo lăng nhăng

Cũng khôn đem lại khả năng cứu nghèo

 

Công danh, xuất hành: đều bất lợi

Cầu hôn, cầu tự: mới vô duyên

Khuyên ai chủng thiện tâm điền

Chớ nên gõ mõ lạc quyên ích gì!(900)

 

Quẻ ba trăm sáu mươi hai (362)

Thủy hỏa ký tế 

Âm dương tương khế

Dục vật tân dân

Tham thiên tán địa

 

Thủy hỏa hòa hợp

Âm dương hợp hòa

Dưỡng người nuôi vật

Đất trời âu ca

 

Quẻ đại cát dành cho ai đó (910)

Vừa có tâm, vừa có cả tầm

Tầm cao, trí dũng thậm thâm

Đủ năng lực để chuyển vần thế gian

 

Trong cái thế âm dương hợp nhất

Thủy hỏa kia diệu mật quy nguyên

Tuyệt vời tán địa tham thiên

Tân dân dục vật trị yên sơn hà

 

Ấy là nói đến người đại trí

Kẻ thường dân chẳng thể tân dân

Cũng làm đặng chuyện vân vân (920)

Nhường cơm xẻ áo thân nhân họ hàng

 

Công danh: hẳn rỡ ràng thịnh đạt

Xuất hành: nhiều lợi lạc phúc duyên

Cầu hôn: như ý nhãn tiền

Ví nên cầu tự: ắt nên sở cầu*

 

Quẻ ba trăm sáu ba (363)

“Kỵ ngọc thố đảo Quảng hàn

Ngộ thường nga tương quế phan

Mãn thân phức úc

Lưỡng tụ hinh hương”(930)

 

Cưỡi ngọc thố lên Quảng hàn

Cùng vin cành quế cõi nàng Hằng Nga

Toàn thân thơm nức hương hoa

Mùi hương tay áo bay xa dặm dài

          

Quẻ đại cát rạng ngời vinh hiển

Thẳng đường mây lên đến cung nga

Tri tài phúc phận bao la

Rỡ ràng mùa gặt cho nhà thuần nông

 

Ấy cái lẽ thuần thông nhân quả

Gieo gặt là đạo cả tam thiên (940)

Gieo nhân hiền gặt quả hiền

Gieo quả ác, quả ác liền trao tay

*Quảng hàn: Quảng:Lớn, rộng, mở rộng, cái điện lớn. Hàn: lạnh. Quảng Hàn là cung điện của vị Thái Âm Tinh Quân ở trên mặt trăng.

*Sở cầu: Sở:  Tiếng dùng chỉ vật gì của mình hay của người. Cầu: xin. Sở cầu là cái mà mình đang tìm kiếm, cầu xin.

Riêng người gặp quẻ này ắt hẳn

Là người đang gặp đặng thời cơ

Một thời cơ đẹp như mơ

Một thời cơ đẹp như tờ tâm kinh

 

Công danh: hẳn đẹp xinh cành quế

Xuất hành: đi tới để thành công

Cầu tài: lộc thắm đầy sân

Cầu hôn, cầu tự: mười phân vẹn nguyền (950)

 

Quẻ ba trăm sáu mươi bốn (364)

“Nhất cá thần đạo

Tùy nhĩ khứ hành

Phùng nhân thiết pháp

Đáo xứ hiển linh”

 

Một vị thần đạo

Mặc sức về đi

Đàm kinh, thuyết pháp

Uy nghi độ đời

 

Người gặp quẻ ấy người xuất chúng (960)

Gương thiện long thánh chủng sáng thay!

Đi về mặc sức đông tây

Tới đâu cũng sẵn bàn tay cứu người

 

Người gặp quẻ suốt đời hướng thiện

Sẵn trong tâm câu niệm Long Hoa

Lớn thì phổ độ gần xa

Nhỏ thì giúp đặng lân la láng giềng

 

Vốn bản lành thần tiên tự tại

Thuyết pháp đàm kinh đại phổ môn

Long Hoa thấu rõ ngọn nguồn (970)

Thả bè lau rước người đương nổi chìm

 

Công danh: lẽ đương nhiên hiển đạt

Xuất hành: nhiều phúc lạc lắm thay!

Cầu tài: lợi lộc đầy tay

Cầu hôn, cầu tự: khéo rày nên duyên

 

Quẻ ba trăm sáu lăm (365)

“Lô trung hỏa

Sa lý kim

Công lực đáo

Đan đỉnh thành”(980)

 

Lửa trong lò

Vàng trong cát

Công lực đạt

Linh đan thành

 

Linh đan luyện trong lò bát quái

Lửa trong lò cốt phải thuần thanh

Công phu hỏa hậu luyện thành

Vàng trong cát hóa tinh anh rạng ngời

 

Linh đan ấy: tâm người tu luyện

Luyện tâm này cho đến hư tâm (990)

Hư mà thực, ảo mà chân

Chiếu kiến Ngũ Uẩn giai không kịp thời

 

Ắt vàng hóa vàng mười tại chỗ

Ấy gọi rằng đương xứ tức chân

Còn như trong chuyện thế trần

Ắt là gặp đặng quả phần vinh hoa

 

Công danh: phải bôn ba mới đạt

Xuất hành: nhiều trôi giạt mới nên

Cầu tài: cầu tự: cầu duyên

Thảy đều chịu lắm truân chuyên mới thành (1000)

 

Quẻ ba trăm sáu sáu (366)

“Thử khứ vạn lý trình

Khước ngộ hoa tri âm

Đồng tâm cộng tế

Đại lập huân danh”

 

Bôn ba vạn lý trình

Mới gặp đặng tri âm

Cùng đồng tâm hiệp lực

Tròn thành tựu công huân

 

Quẻ báo trước bước đường gian khó (1010)

Vạn lý trình sóng gió bôn ba

Cũng may trên bước đường xa

Tiền hung hậu kiết gặp mà tri âm

 

*Ngũ uẩncũng gọi là Ngũ ấm, là năm nhóm tượng trưng cho năm yếu tố tạo thành con người, toàn bộ thân tâm. Ngoài ngũ uẩn đó ra không có gì gọi là cái "ta".

Ngũ uẩn là:

Sắc: chỉ thân và sáu giác quan (hay còn gọi là lục căn, bao gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý), do Tứ đại chủng tạo thành, đó là bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa. Sắc tạo nên các giác quan và đối tượng của chúng.

Thọ: tức là toàn bộ các cảm giác, không phân biệt chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính.

Tưởng: là nhận biết các cảm giác như âm thanh, màu sắc, mùi vị..., kể cả nhận biết ý thức đang hiện diện.

Hành: là những hoạt động tâm lí sau khi có tưởng, ví dụ chú ý, đánh giá, vui thích, ghét bỏ, quyết tâm, tỉnh giác...

Thức: bao gồm sáu dạng ý thức liên hệ tới sáu giác quan: Ý thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

Ngũ uẩn cũng được gọi là năm ràng buộc vì chỉ có Phật hay A-la-hán mới không bị dính mắc nơi chúng. Đặc tính chung của chúng là Vô thường, Vô ngãKhổ.

Gặp một bạn tri âm có khác

Rồng gặp mây bát ngát tương lai

Một khi trúc đã có mai

Thì công huân ắt có ngày hiển vinh

 

Công danh: vạn lý trình mới đạt

Xuất hành: nhiều đại cát tha phương

Cầu tài, cầu tự, cầu hôn (1020)

Thảy đều giữa chốn tha phương mới thành

 

Quẻ ba trăm sáu mươi bảy (367)

“Tầm phương xuân nhật

Ngộ kiến hoa khai

Đóa đóa kham trích

Chi chi khả tài”

 

Mùa xuân cất bước tìm thơm

Nơi nơi cánh cánh hoa đơm mọi miền

Đóa nào cũng muốn hái liền

Cành nào cũng muốn ngắt, đem về trồng (1030)

 

Người gặp quẻ mười phần như ý

Vận tới rồi, du hí từ đây

Bỏ công vun vén bấy nay

Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời

 

Mùa xuân đến, nơi nơi hoa nở

Thấy hoa nào cũng rỡ ràng xinh

Lại sinh tâm hái dao quỳnh

Đem về trồng giữa vườn mình mới cam!

 

Ý quẻ nói lòng ham dạ muốn

Là vô cùng, vô lượng vô biên (1040)

Khuyên ai tri chỉ mới nên

Biết dừng lại ắt vẹn tuyền xưa sau

 

Công danh: hẳn tròn câu hiển đạt

Xuất hành: nhiều phúc lạc chờ ta

Cầu tài: như gấm thêm hoa

Cầu hôn, cầu tự: thảy đều tròn vuông

 

Quẻ ba trăm sáu tám (368)

“Long nhất ngâm

Vân tiện hưng

Xung tiêu trực thượng (1050)

Khoái đổ thái bình

Vi văn vi võ

Quân quân thần thần”

 

Rồng gầm một tiếng

Mây lành xuất hiện

Vận nước bình yên

Vua sáng tôi hiền

Âu ca bốn bể

 

Quẻ ứng vào bậc người phẩm hạnh

Triều cương thì vua thánh tôi hiền (1060)

Đến như giữa chốn lâm tuyền

Ngư tiều canh mụccũng nên đạo người

 

*Tri chỉ: tri: biết; chỉ: dừng: tri chỉ có nghĩa là biết dừng

Thương thì giữ tiếng lời ngay thật

Công nông thì niệm nhất nghệ tinh

Nam thì xứng chữ phu huynh

Nữ thì xứng chữ tiết trinh thục hiền

 

 

Nói tóm lại ai nên phận nấy

Tu tề trị bình vậy chỉn chu

Ắt là thịnh vận thiên thu 

Âu ca bốn biển ngao du một đời (1070)

 

Công danh: đích thị thời thịnh đạt

Xuất hành: trong đại cát hanh thông

Cầu tài, cầu tự …vân vân

Thảy đều như nguyện mười phân vẹn mười

 

Quẻ ba trăm sáu chín (369)

“Hổ xuất kim thương

Hữu dũng diệc hà tế

Chẩm tự sơn ông

Phi phú do khả thú”

 

Cọp rời hang ổ bị thương (1080)

Có dũng vẫn mắc tai ương, lạ lùng

Sánh sao bằng lão sơn ông

Chẳng giàu mà vẫn thong dong một đời

 

*Ngư tiều canh mục: Ngư:người câu cá. Tiều: ông đốn củi rừng. Canh: người cày ruộng. Mục: kẻ chăn trâu.

Ngư tiều canh mục là 4 thú vui của người ẩn sĩ, gọi là Tứ thú: Câu cá, đốn củi rừng, cày ruộng, chăn trâu.

Ngư: như ông Khương Thượng ngồi câu ở Bàn thạch.

Tiều: như ông Chung Tử Kỳ đi đốn củi rừng hằng ngày.

Canh: như ông Ngu Thuấn đi cày ở Lịch Sơn.

Mục: như ông Sào Phủ chăn trâu ở sông Dịch thủy.

Các họa sĩ thời xưa cũng thích dùng 4 cảnh nầy để vẽ tranh và làm thơ ngâm vịnh:

Cảnh người câu cá ngồi trên chiếc thuyền nan giữa sông nước bao la.

Cảnh ông tiều lên rừng đốn củi, vác bó củi trở về.

Cảnh nông phu cày ruộng với con trâu giữa đồng.

Cảnh các mục đồng ngồi lưng trâu thổi sáo.

Dũng với phú, người đời ham chuộng

Có hay đâu chúng vốn bất toàn

Đừng rằng dũng phú mà ham

Khỏe giàu chưa chắc đã toàn được thân

 

Muốn an ổn phải cần lập đức

Có đức thì mặc sức mà ăn

Mà trường thọ mãi trăm năm (1090)

Mà trường lộc mãi dung dăng bao đời

 

Khuyên ai chớ ỷ thời ỷ thế

Chớ ỷ tài ỷ nghệ chi chi

Một đời giữ được chữ Bi

Ấy là phúc phận phương phi tót vời

 

Công danh: chẳng gặp thời, khó đạt

Xuất hành: chờ dịp khác rồi đi

Cầu tài: chẳng lợi lộc chi

Cầu hôn, cầu tự: vận thì dở dang

 

Quẻ ba trăm bảy mươi (370)  (1100)

“Quá dương trường

Nhập khang trang

Ngũ lăng cừu mã

Đương tư cố hương”

 

Qua đường dê dấu thỏ

Tới cảnh nọ khang trang

Ngũ Lăngchốn giàu sang

Chợt nhớ về đất tổ

 

Quẻ nhắc đến những ai kinh lịch

Trải qua bao bi kịch trần gian (1110)

Đường dê lối thỏ hồng hoang

Để rồi đi tới khang trang bấy giờ

 

 

Thành Ngũ Lăng phất cờ dóng trống

Nếp xuân tiên lồng lộng trời xanh

Tới bờ kia cõi an lành

Chạnh lòng nhớ đến quê mình lầm than

 

Nỗi áo gấm về làng da diết

Mong được về máu thịt quê xưa

Tấc lòng như một bài thơ

Nghìn xưa ai đó bây giờ đó ai (1120)

 

 

 

Công danh: hẳn mười mươi hiển đạt

Xuất hành: nhiều phúc lạc đương cơ

Cầu hôn: kết nghĩa quê xưa

Lại thêm cầu tự ý như sở cầu

 

Quẻ ba trăm bảy mốt (371)

Hỏa tao thủy khắc

Hỏa diệt kỳ quang

Thủy thế thao thao

Nguyên viễn lưu trường

 

Lửa gặp nước khắc (1130)

Lửa tắt ngọn liền

Thế nước triền miên

Nguồn cao dâng xiết

*Ngũ Lăng: chỉ nơi kinh kỳ đô hội. theo Hán Thư thì hào phóng, tinh hoa khắp các quận và đất Trường An đều tụ hội lại đất Ngũ Lăng.

Người gặp quẻ bắt đầu hưng thịnh

Hỏa tai kia dẫu tính lung lăng

Một khi gặp thế nước hăng

Dễ chi giữ được khả năng hoành hành

 

Lại, nữa thủy: ấy hình ấy ảnh

Của phong nhiêu, hưng thịnh, tài bồi

Của tăng trưởng, của sinh sôi (1140)

Giúp người gặp quẻ “hơn mười năm xưa”

 

Công danh: hẳn có cơ thịnh đạt

Xuất hành: hơn hẳn các thời qua

Cầu tài: lợi lộc bao la

Cầu hôn cầu tự: xét ra trung bình

 

Quẻ ba trăm bảy hai (372)

Đông các diên khai

Giai khách tự lai

Cao ca xướng họa

Triển ấp thư hoài”(1150)

 

Lầu các hướng đông mở tiệc

Bao khách quý tự tìm vào

Tiếng hát câu ca bất tuyệt

Tâm trường khẳng khái xiết bao

 

Ý quẻ nói kết giao đúng lúc

Bốn bề anh em, phúc khắp nhà

Đã sinh trong cõi người, ta

Sống sao cho vẹn chữ ta chữ người

 

*Tài bồi: Tài: Trồng cây. Bồi: đắp thêm. Tài bồi là vun trồng, trau giồi, đào luyện

 

Nghĩa kết giao tuyệt vời như thế

Chữ đệ huynh khả dĩ vuông tròn (1160)

“Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

 

Người gặp quẻ xiết bao may mắn

Được hưởng thêm muối mặn gừng cay

Một tay vỗ thế vào đây

Nhiều tay vỗ, ắt nên rày tiếng kêu

 

Công danh: hẳn dập dìu khanh tướng

Xuất hành: nhiều lợi hướng công ty

Cầu hôn, cầu tự chi chi

Cũng nhờ hai chữ tương tri hợp quần (1170)

 

 

Quẻ ba trăm bảy ba (373)

Thế giới tự thanh ninh

Bất tri từ dĩ hưu

Đả điệp yếu tiểu tâm

Tu phòng tao hỏa độc”

 

Tường thiên hạ an bình

Nào ngờ lắm chuyện kinh

Phải lưu tâm cẩn thận

Phòng lửa độc hại mình

 

Người trong quẻ cảnh tình rối rắm (1180)

Phải lưu tâm cho lắm mới nên

Hành trình lắm nỗi đảo điên

Đề phòng bất trắc kẻo phiền đến thân

 

*Khanh tướng: Các quan to nắm quyền hành trong triều đình phong kiến

Tuy ngoại thể xem chừng yên ổn

Nhưng nội tình ma chướng nhiều thay

Coi chừng “lửa độc” quanh đây

Một khi “lửa tắt” trở tay kịp nào!

 

Công danh: phải đề cao cảnh giác

Xuất hành: nhiều đạn lạc tên bay

Cầu tài: bất lợi trắng tay (1190)

Cầu hôn, cầu tự: quẻ này vô phương

 

Quẻ ba trăm bảy bốn (374)

Khiêu long môn

Tu cấp lãng

Lôi điện oanh oanh

Dũng dược vạn trượng”

 

Vẫy vùng một vượt long môn

Đùng đùng gió dậy, dập dồn sóng xao

Một thời sấm sét nao nao   

Nhảy trong muôn trượng vươn cao chín tầng (1200)

 

Thời đã tới! muôn phần vinh hiển

Cá hóa rồng! đại chuyển thần uy!

Chẳng là quốc sĩ đó chi?

Nghiêng vai gánh vác triều nghi rỡ ràng

 

Lớn thì đứng vào hàng lương đống

Nhỏ thì che đủ bóng gia hương

Người mà gặp “quẻ long môn”

Ắt là hào kiệt đòi phương, tề- bình

 

Công danh: hẳn tròn xinh sự nghiệp

Xuất hành: nhiều liệt liệt oanh oanh(1210)

Cầu tài: lợi lộc sẵn dành

Ví như cầu tự: ắt sanh con hiền (1212)

 

*Triều nghi: Triều:Triều đình, chầu lạy vua, một đời vua. Nghi: nghi lễ, phép tắc.

Triều nghi là phép tắc về nghi lễ nơi triều đình.

*Lương đống:lương là rường nhà, đống là đòn nóc nhà. Chỉ người có tài năng giúp việc chống đỡ cho quốc gia.

Toàn bộ lợi nhuận của công ty cổ phần Đại Nam không chia cho cổ đông. Lợi nhuận sau khi tái đầu tư, công ty sẽ dành 100% lợi nhuận còn lại cho quỹ từ thiện Hằng Hữu hoạt động vì cộng đồng, đặc biệt là chương trình mổ tim dành cho trẻ em