Long Hoa Trẩy Hội - Quyển 7

Long Hoa Trẩy Hội - Quyển 7

 

Quyển Bảy

 

Quẻ ba bảy lăm (375)

Sơn thượng hữu cổ tùng

Đình đình xung Hán Đẩu

Cán lão chi cánh trường

Thiên địa sinh vinh cửu”

 

Cây tùng cổ thụ non cao

Hiên ngang đứng giữa cõi bao la trời

Gốc già, cành lá vươn tươi

Trong vòng thiên địa sống đời thiên thu

 

Ý quẻ nhắc đến người từng trải (10)

Như cội tùng- vững chải lắm thay!

Một mình đứng giữa xanh mây

Thi gan với sương xuân này mà chơi

 

Đã nếm đủ vị đời mưa nắng

Lại sẵn niềm cứng rắn bình sinh

Ấy rằng tư chất kiên trinh

Tạo nên bản lĩnh chính mình liệt oanh

 

Người như thế xứng danh hào kiệt

Như cội tùng biêng biếc xanh khơi

Điểm trang vẻ đẹp cho đời (20)

Tạo nên điểm tựa cho người thế gian

 

Công danh: hẳn ngày càng hiển hách

Xuất hành: trăm thử thách đều qua

Cầu tài: cũng đủ tiêu pha

Cầu hôn, cầu tự: cành già, cây tươi

 

Quẻ ba trăm bảy sáu (376)

Phỉ báng ngôn

Vật kế luận

Đáo đầu lai

Số dĩ định (30)

Lục lục phù sinh

Bất như an phận

Lời phỉ báng

Để ngoài tai

Số đã định

Miễn buồn ai

Đời mộng huyễn

Chớ đeo đai

An thủ phận

Khéo hòa thay!(40)

Người gặp quẻ đang điều tai tiếng

Miệng thế gian gièm siểm dong dài

Khuyên ai khá để ngoài tai

Lợi, suy, hủy, dự, miệt mài xưng,cơ

 

Chớ để tiếng thị phi trong dạ

Tâm bồ đề lượng cả bao dong

Một khi khép đặng cửa lòng

Bấy giờ thắp ngọn đèn chong Đại Thừa

 

*Gièm siểm: Gièm:còn viết Dèm: Đặt điều nói xấu hại người. Siểm: dua nịnh, thường nói Siểm nịnh.

Gièm siểm hay Dèm siểm là nịnh bợ cấp trên vừa đặt điều nói xấu người khác để người đó không còn được cấp trên tin dùng nữa mà lại tin dùng mình.

 

Người giữ được như như bất động

Trước những lời vu khống gièm pha (50)

Là người thắng được chính ta

Một phen tự thắng, ai qua được mình?

 

Công danh: chẳng cầu dành để được

Xuất hành: cần thắng vượt gian nan

Cầu tài: chớ khá lo toan

Cầu hôn, cầu tự: lỡ làng khó nên

 

Quẻ ba trăm bảy bảy (377)    

Nhất cá trư

Khả tế thiên địa

Tuy táng thân (60)

Diệc toán hảo xứ

Một cổ lợn thôi

Đủ tế đất trời

Lợn tuy vong mạng

Ích cho bao người

 

Quẻ nhắc đến những người xả kỷ

Hạnh kia vô úy thí đẹp thay

Hiến thân cho nghĩa cao dày

Mạng này đổi lấy phúc này cho ai

 

Những kẻ sống vì người như thế (70)

Hy sinh mình chẳng để vinh danh

Cho tên mình chói sử xanh

Chẳng qua… vì mỗi tất thành, thế thôi

 

*Gièm pha: Gièm:còn viết Dèm: Đặt điều nói xấu hại người. Pha: trộn lẫn vào.

Gièm pha là đặt điều thế nầy thế nọ để nói xấu người khác với cấp trên, để cấp trên không tin dùng người ấy nữa, mà lại tin dùng mình.

Nghĩa “thành nhân” tuyệt vời “chi mỹ”

Giúp người nên, sá kể thiệt mình

Lành thay, cổ lợn hy sinh

Bi tâm ấy đủ thuyết minh đạo vàng

 

Công danh: chẳng rỡ ràng bao nả

Xuất hành: vì nghĩa cả, long đong

Cầu tài: quả chả bằng công (80)

Cầu hôn, cầu tự: khó mong vẹn nguyền

 

Quẻ ba trăm bảy tám (378)

Dữ kỳ nhật doanh doanh

Hà như dạ thổn thổn

Nhật lý đa lao hình

Dạ gian khước an ổn

 

Ngày làm ăn tất tả

Tối nằm ngủ thảnh thơi

Ngày lao lực mệt người

Tối về ngơi giấc đã   (90)

 

Ý quẻ nói những ai lao lực

Nhất là lao lực thật hiền lương

Chẳng hề tính chuyện máu xương

Sát đạo dâm vọng chẳng vương nghiệp tà

 

Những người ấy thật là thanh thản

Lao lực rồi khỏi nạn lao tâm

Ngày dù lao nhọc tấm thân

Nhưng đêm lại hưởng giấc xuân êm đềm

 

Bậc hành giả rất nên đạt lý

Khi chủ trương an nghỉ phần tâm (100)

Để dành cực nhọc phần thân

Cho phần tâm đặng mười phân an nhàn

 

Công danh: hẳn còn đang lận đận

Xuất hành: chưa hưởng tận phong lưu

Cầu tài: chẳng được thừa dư

Cầu hôn, cầu tự: chẳng như ý nào!

 

Quẻ ba trăm bảy chín (379)       

Đông phong lai

Hoa tự khai

Đại gia xướng thái  (110)

Sướng ẩm tam bôi”

 

Gió xuân ngập trời

Hoa thắm đua tươi

Đàn ca xướng hát

Ba chung cạn mời

 

Quẻ thượng cát tả người đắc chí

Đã gieo nhân rồi nhỉ! – tới nơi   

Bây giờ gặt quả tốt tươi

Ba chung phúc lộc thọ ngời quang huy

 

Không có nhân, dễ gì có quả   (120)

Có điều là: khi đã “nên công”

Khi lúa đã chín đầy đồng

Khi trái đã chín mênh mông khắp vườn

 

Mùa thu hoạch đã thơm như thế

Thì, vấn đề là “kẻ- trồng- cây”

Phải cư xử thế nào đây

Xử sao cho phúc mãi đầy, đừng vơi?  

 

Nghĩa là phải biết “chơi” đúng cách

Biết “ở” cho đúng sách thiên lương

Tóm lại là phải biết thương  (130)

Thương cha mẹ, thương quê hương, thương đời

 

Công danh: hẳn tuyệt vời hiển hách

Xuất hành: trăm thử thách đều qua

Cầu tài: lợi lộc bao la

Cầu hôn, cầu tự: ắt là nên duyên

 

Quẻ ba trăm tám mươi (380)

Sơ thực ẩm thủy

Lạc tại kỳ trung

Cao lương mỹ vị

Phản sử tâm mông”(140)

Ăn rau, uống nước giếng

Niềm vui sẵn tự lòng

Lắm cao lương mỹ vị

Chỉ tổ hại hình dong

 

Quẻ nhắc nhở thanh tâm thiểu dục

Đi tìm nguồn hạnh phúc trong tâm

Ấy là hạnh phúc thậm thâm  

Vượt trên ngũ lạc cõi trần gian kia

 

*Ngũ lạc: chỉ cho 5 giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân có khả năng đối ứng với các thú vui thích của 5 cảnh:  sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, và sự mịn màng trơn láng.

Cao lương mỹ vị ê hề lắm

Chỉ tổ chìm tổ đắm tâm linh  (150)

Miếng ngon là miếng cực hình

Luống làm cho tuổi thọ mình giảm đi

 

Tuy thần toán nghiệp về lý số

Đoán vận người đen đỏ kiết hung

Nhưng, trong cái lẽ tận cùng

Vẫn là nơi đến đạo chung muôn loài

 

Mà đạo ấy chẳng ngoài tâm ấy 

Cái “chân tâm” như vậy thường hằng

Gồm lương tri, gộp lương năng

Bản lai diện mụctỏ rằm trung thu  (160)

 

Công danh: chẳng phất cờ hiển hách

Xuất hành: vui nẻo sạch, đường thơm

Cầu tài: không kém, không hơn

Cầu hôn, cầu tự: tông đường hiển vinh

 

Quẻ ba tám mốt (381)

Hoàng ngưu tịch thổ

Đại lực khai cương 

Tây thành thời hậu

Cốc mễ doanh thương

Trâu bò cày ruộng nương (170)

Đại lực mở biên cương

Đợi sang năm gặt hái

Thu hoạch chất bồ rương

 

*Bản lai diện mục: Bản:Gốc, ý nói lúc đầu. Lai: Tới, ý nói lúc sau nầy. Bổn lai là xưa nay, từ lúc đầu đến nay.

Diện:Cái mặt. Mục: Con mắt. Diện mục là mặt mày.Bản lai diện mục là mặt mày xưa nay, tức là cái mặt có từ vô thỉ đến nay, là khuôn mặt muôn đời của mình.

Người gặp quẻ trên đường tự lực

Nỗ lực cần lao thực khẩn trương

Lấy câu cần kiệm làm gương

Lấy lẽ nhân quả làm đường tiến thân

 

Hai yếu tố- một cần, hai kiệm

Đôi cánh đưa ta đến thành công

Cần là chẳng chịu ngồi không (180)

Tay chân cật lực, cõi lòng nhàn vui

 

Kiệm là chẳng đua đòi xa xỉ

Tích cốc phòng cơđể mai sau

Ai mà tính chuyện dài lâu

Phải lấy cần kiệm làm câu sửa mình

Chữ cần kiệm đẹp xinh như thế

Mở biên cương nhị đế Tam Thừa *

Giúp người vừa được ấm no

Lại vừa đạt được tự do Niết Bàn

 

Mùa thu hoạch rõ ràng biết mấy (190)

Thóc lúa thì thu lấy vào kho

Những gì đức hạnh thơm tho

Thì trao tâm nọ dành cho vạn đời

 

Công danh: vất vả rồi thành đạt

Xuất hành: cần gieo hạt tương giao

Cầu tài: lợi lộc dồi dào

Cầu hôn, cầu tự: cũng vào bậc trung

 

*Tích cốc phòng cơ: Tích:Chứa, dồn lại. Cốc: chỉ chung các loại lúa nếp. Phòng: dự phòng. Cơ: đói.

Tích cốc phòng cơ là chứa lúa nếp để dự phòng nạn đói.

 

*Tam thừalà ba cỗ xe đưa đến Niết-bàn, đó là Thanh văn thừa, Độc giác thừa  và Bồ Tát thừa. Đại thừagọi Thanh văn thừaTiểu thừa với sự đắc quả A-la-hán là mục đích, Độc giác thừa là Trung thừa với quả Độc giác Phật. Bồ Tát thừa được xem là Đại thừa vì nó có thể cứu độ tất cả chúng sinh và hành giả trên xe này cũng có thể đắc quả cao nhất, quả Vô thượng chính đẳng chính giác.

Quẻ ba trăm tám hai (382)

Xà khả hóa long

Đầu giác tương xuất (200)

Bình địa nhất thanh

Lôi oanh phương hiển

Long xà hữu lực

Rắn chợt hóa long

Trên đầu sừng mọc

Sấm tuôn sét dậy

Rắn rồng hiển uy

 

Rắn mà chợt hóa rồng: ý nhắc

Người từ hỏa nội đắc thanh lương

Thoát nhiên chứng ngộ thiên lương  (210)

Như xà long nọ cao vươn chín tầng

 

Bởi rắn đã sẵn ngầm bản lĩnh

Của rồng kia tự tánh thần thông

Một khi thêm chứng tánh không

Trên đầu ắt mọc sừng rồng Như Lai

 

Công danh: đã tới thời thịnh đạt

Xuất hành: thêm hiển phát uy phong

Cầu tài, cầu lộc hanh thông

Cầu hôn, cầu tự: song song vẹn nguyền

 

Quẻ ba tám ba (383)   (220)

Cửu Hoa Sơn đỉnh

Tử khí đằng đằng

Dị tận nhất chu

Thử khứ tiền hành

Trên đỉnh Cửu Hoa Sơn

Hơi tía bốc, miên trường

Hãy khuân mau dị vật

Căng buồm vượt trùng dương

 

Người gặp quẻ rõ đương gặp vận

Như người đang đứng tận non Hoa  (230)

Một vùng hơi tía bao la

Hiện thân anh khí sơn hà tâm linh

 

Chín đỉnh Hoa Sơn xinh phúc tuệ

Bản lĩnh kia há dễ xem thường

Khi non đã hiện cát tường

Thì sông cứ việc căng buồm viễn khơi

 

Đem hơi tía tuyệt vời Hoa đỉnh

Ban bố cùng bách tính gần xa

“Trên là nước dưới là nhà

Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng”(240)

 

Công danh: ắt hanh thông vẹn vẻ

Xuất hành: vui bước khỏe mùa xuân

Cầu tài: lợi lộc mười phân

Cầu hôn, cầu tự: Tấn Tần huệ lan

 

(Sẽ cưới được người vàng trong mộng

Sinh con ngoan, dòng giống rồng tiên…)

 

*Cửu Hoa Sơn là một trong 4 ngọn núi linh thiêng của đạo Phật, nằm về phía đông nam của phố Trì Châu thuộc tỉnh An Huy - Trung Quốc. Đây là ngọn núi nổi tiếng vì có phong cảnh đẹp và những ngôi đền cổ, gắn liền với Địa Tạng Bồ Tát

Quẻ ba trăm tám bốn (384)

Nhân phi khổng nhan

Quá nhi năng cải

Nhưng phục vô quá (250)

Khai hoa bất túc

Bằng kết quả phương vi chuẩn

Phóng khai hoài bão ý hân hân

 

Làm người đâu phải thánh

Ai không mắc lỗi lầm

Có lỗi mà biết lỗi

Mà biết hối trong tâm

 

Lại biết sửa lầm lỗi

Ắt tốt đẹp mười phân

Như hoa kia đậu quẻ (260)

Mười phân vẹn cả mười

 

Ý quẻ nhắc như người gặp quẻ

Cái xưa- nay- lý- lẽ cuộc đời

Xưa nay ai đã làm người

Mà không nhiều ít vướng nơi lỗi lầm

 

Đấng vô ngôn ắt không hề có

Ví có thì cũng rõ là người

Là người thiên hạ, ai ơi!

Phải đâu thần thánh mười mươi sạch làu

 

Có điều sách có câu: có lỗi  (270)

Biết lỗi thì sạch tội bán phần

Còn như biết sửa lỗi lầm

Thì là tội lỗi cũng cầm bằng như…

 

Sen nọ dẫu một khi chung chạ

Với bùn chưa chắc đã vướng tanh

Vẫn dư sức để vươn xanh

Tỏa thơm ý đạo trong lành đó chi?

 

Người ta có khác gì sen ấy

Dẫu trong bùn vậy vậy tanh hôi

Vẫn thiên lương vút tận trời   (280)

Vẫn Như Lai Tạng nở ngời sắc hương

 

Quẻ cuối quẻ chủ trương thiện sự

Ấy tâm linh phong phú con người

Dẫu cho sống ở trên đời

Miếng cơm manh áo lôi thôi vô cùng

 

Nhưng trong cái gông cùm vật chất

Cái tử sinh quy luật buộc ràng

Ba trăm tám bốn (384) quẻ vàng

Những suy thịnh, những nguy an, bổng trầm

 

Vẫn hé lộ cái phần “bất biến”(290)

Giữa vô vàn biến chuyển nhân sinh

Cái phần “thường trụ tâm linh”

Cái phần chân tánh quang minh tuyệt vời

*Cầm bằng: Tổ hợp từ dùng để nêu một giả thiết, coi đó là khả năng hoặc trường hợp xấu nhất đành phải chấp nhận; cứ kể như, cứ coi như là. Cầm bằng như không có nó.

*Thường trụ: Thường:Luôn luôn, không đổi, bình thường. Trụ: Trú: ở.

Thường trụ là hằng ở, thường còn, lúc nào cũng hiện hữu như vậy, không biến đổi, không gián đoạn.

Thường trụ là tiếng được dùng để xưng chung Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) và xưng riêng Đức Phật.

Cái phần của nụ cười Di Lặc

Đấng đương lai tịch mặc năng nhân

Một mai đây sẽ giáng trần

Khai Long Hoa hội mười phân vẹn mười

 

Đấng văn Phật nụ cười Dung Nhiếp

Hợp nhất muôn sai biệt trần gian

Từ “hỏa nội đắc thanh lương”(300)

“Vạn thù quy nhất thể” đương lai này!

 

Vì sao có đọa đày tai biến

Có phân chia trận tuyến Đông Tây

Có thiện ác, có gian ngay

Có địa ngục, lại có ngay thiên đàng?

 

Vì sao có vô vàn Thống Hận

Có vô vàn lận đận ngược xuôi

Vì sao có mỗi lệ thôi

Lệ và máu, còn nụ cười thì không!

 

Ấy vì bởi cái tâm nó chấp (310)

Nó ngỡ “đời là thật”- như nhiên!

Ngỡ rằng cái ngã đảo điên

Cái “thức phân biệt” huyên thuyên là mình

 

Từ cái “chấp” nảy sinh cái “có”

Cái có làm thương khó đời ta

Nó làm Tịnh Độ nguy nga

Thành “ba gian lửa” trầm kha đoạn trường

 

*Huyên thuyên: nói năng nhiều lời và lan man, chưa hết chuyện này đã sang chuyện kia.

Kính đức Phật Thế Tôn Từ Thị

Thương chúng sanh vướng ý trong tâm

(Chữ rằng: “tam thượng sinh tâm”)  (320)

Khiến cho cát lở bụi lầm bấy nay

 

Nên phát nguyện ra tay cứu độ

Dùng phép mầu nhiệm gỡ oan khiên

Đã đành chư Phật tam thiên

Xưa nay là một, chẳng riêng Phật nào

 

Đã đành pháp chẳng bao giờ khác

Vẫn cùng chung giải thoát tánh kia

Nhưng trong phương tiện Bồ Đề

Mỗi pháp vẫn có nét chi đặc thù

 

Phật pháp gọi lý cơ là thế (330)

Nghĩa “khế cơ đối trị” nhiệm mầu

Bệnh nào phải dùng thuốc nào

Bệnh dùng sai thuốc có đâu bệnh lành

 

Như bệnh của chúng sanh đương đại

Ấy bệnh mê chấp cái sở tri

Trong ba độc tham sân si

Độc nào hơn được tư duy sai lầm

 

Sai ấy chính móng mầm sinh tử

Chấp cái tư duy nọ là ta

Luống nên trôi dạt ái hà (340)

Ngàn đời vẫn một sa đà vọng tâm

 

*Khế Cơ và Khế Lý: Trong đạo Phật có thêm khái niệm về nhị khế, khế lý và khế cơ. Khế lý nghĩa là phải phù hợp với căn bản đạo Phật, không chống lại với giáo lý vô thường, vô ngã và niết bàn. Thứ hai là khế cơ, có nghĩa là phù hợp với hoàn cảnh, với tâm lý, với trường hợp của người ta đang muốn giúp đỡ.

Vọng tâm ấy cái tâm sinh ý

Ý sinh thành đôi vế đúng sai

Để nên cái vắn cái dài

Cái nam cái bắc, cái đoài cái đông

 

Có hai vế tức không còn một

Ấy khởi đầu cho bước vong thân

Khởi đầu hai chữ trầm luân

Hoa trôi bèo dạt, cái thân hư phù

 

Khởi đầu cho cái “phù du tánh”(350)

Thoáng trăm năm đỏng đảnh nhân sinh

Thoắt đâu hiện một “cái mình”

Thoắt qua thoắt lại đã thành hư vô!

 

Trước ta, có bao giờ ta có

Sau ta, còn có đó ta không?  

Vô minh! Một cõi mơ mòng!

Mười Hai Cái Nút Thắt Vòng Nhân Duyên

 

Vô Minhnọ sinh nên Hành Thức

Hành Thứcsinh Danh Sắc đa đoan

Rồi thì Lục Nhập miên man (360)

Rồi thì Ái Thủ Hữu càng trêu ngươi

 

Đã có Ái tức thời có Hữu

Yêu thì lo mà giữ chớ sao!

Giữ thì có, phải không nào?

Thủ thì phải hữu, hữu bao nhiêu càng…

 

Bốn cái vế bẽ bàng định mệnh

Ấy là sinh lão bệnh tử kia

Sinh, già, bệnh- rồi chết đi

Hữu thành vô- hỏi còn gì bi hơn?

 

Lại, còn bi hài hơn có phải?(370)

Bi hài là thực tại thế gian!

Là kịch bản của nhân hoàn

Bất di bất dịch, dở dang phận người

 

Vì sao có “cái tôi” ai biết!

Vô minh là nhất thiết chúng sanh

Tự nhiên mình bỗng có mình

Để rồi một thoáng phù sinh, chẳng còn!

 

Trăm năm khéo thề non hẹn nước

Nước non thì sau trước còn đây

Những người thề thốt bấy nay (380)

Hỏi còn ai giữa đời này nữa chăng?

 

Rõ cuộc sống có lăng nhăng thế

Rõ tang thương dâu bể phù du

Vậy mà, giữa cuộc xuân thu

Người ta cứ việc rối mù cả lên

 

Nào những lập! triền miên cái lập!

Nào lập ngôn, lập đức, lập công

Bao nhiêu cái lập chất chồng

Dã tràng se cát biển đông, ích gì!

 

Ấy bởi tại cái si nó khiến (390)

Cái si từ cái kiến mà ra

Kiến là thấy ở ngoài da

Sinh ra cái ý làm ta bận lòng

 

Nỗi “tam thượng sinh tâm” là thế

Tự trong lòng, dâu bể đa đoan

Tâm bình, thế giới bình an

Tâm loạn, thế giới vô vàn loạn ly!

 

Nam mô đức Đại bi Từ Thị

Đức Đương Lai thọ ký Long Hoa

Mở đường phổ độ gần xa (400)

Đưa đời vào cõi Phật Đà vô sinh

 

Ấy là cõi quang minh trí tuệ

Vượt ra ngoài ý nọ tình kia

Phục hồi cảnh giới không chia

Cảnh giới Siêu Thức Tự Tri tót vời

 

Cảnh giới ở ngang nơi Bát Bất

Bất Sanh, Bất Diệt thật như nhiên

Chẳng gì dưới, chẳng gì trên

Chẳng gì xuống, chẳng gì lên, chẳng gì…

 

Cảnh giới chẳng có chi Thường, Đoạn (410)

Ấy Bất Thường, Bất Đoạn là tên

Không thường hằng để triền miên

Cũng không đứt đoạn để nên hư phù

 

Cảnh giới ấy như như bình đẳng

Chẳng nhất mà cũng chẳng Nhị đâu!

Pháp môn cứu độ nhiệm mầu

Bất Nhất Bất Nhị mở đầu Long Hoa

 

Cõi thế gian ta bà đương đại

Sở dĩ chìm trong cái tai ương

Của niềm thống hận thê lương (420)

Của nguy cơ đại chiến trường hành tinh

 

Ấy bởi cái vô minh nó khiến

Không thấy ra cái hiện thực này

Chẳng là một chẳng là hai

Ấy là bản thể Như Lai nhiệm mầu

 

Chẳng là một, nên dầu là Phật

Vẫn có chút gì thật riêng tư

Nó phân biệt đức Phật này

Với đức Phật khác: lại ngay như là

 

Hai giọt nước dẫu là như một (430)

Nhưng một là trong cốt cách thôi

Còn như nơi phong cách, thời

Mỗi giọt nước vẫn có trời đất riêng

 

Hai đức Phật uyên nguyên dẫu một

Nhưng bên trong- cùng tột bên trong

Vẫn có chút gì vô song

Chút gì bất nhất thong dong tuyệt vời

 

Thấu cái lý ấy thời lâm sự

Ta mới cư mới xử tròn vuông

Không san bằng, chẳng luông tuồng (440)

Mãi biết trọng, mãi biết tôn vạn thù

 

Và, như vậy, nên từ vô lượng

Nên bi càng vô thượng- đúng không?

Từ, bi, hỷ xả mênh mông

Cũng từ cái nhận thức không sai lầm

 

Cái nhận thức: trong đồng có dị

Nó tạo điều kiện để thăng hoa

Để phát huy chính cái ta

Lại phát huy cả sơn hà, càn khôn

 

Chẳng là một: cội nguồn như thế (450)

Nên chẳng là hai: vế đối liên

Ấy là Bất Nhị sâu huyền

Cứu tinh thế giới nhị nguyên bây giờ

 

Vì sao thế? Vì suy cho kỹ

Ắt thấy rằng cõi thế hôm nay

Sở dĩ trăm đọa ngàn đày

Cũng vì chẳng tỏ lẽ rày: không hai

 

Trong thế gian trăm sai nghìn biệt

Không sẵn sàng để diệt trừ nhau

Trời chung chẳng đội trên đầu (460)

Cũng do cái lẽ “khác nhau”, “không cùng”

 

Ví như nói về khung chủng tộc:

Bao chiến tranh tàn khốc xảy ra

Nguyên nhân vì khác màu da

Hoặc là nguồn gốc ông bà tổ tiên

 

Bao cuộc chiến tranh trên thế giới

Cũng vì điều ngu muội này thôi

Cho chủng tộc mình hơn người

Là siêu chủng tộc do trời sinh ra!

 

Cũng vì chấp cái ta chủng tộc (470)

Bao chiến tranh tàn khốc nổ bùng

Núi xương, sông máu hãi hùng

Cũng vì một niệm “chẳng chung” sai lầm

 

Nhưng khoa học đã từng minh chứng

Rằng loài người vốn cũng một nguồn

Cũng từng ấy thịt, ấy xương

Cũng từng ấy phách, ấy hồn tâm linh

 

Dẫu có khác cái hình cái thể

Song cái căn cái đế nào hai

Cùng chung giọt lệ vắn dài (480)

Cùng nụ cười đẹp láng lai tâm tình

 

Cùng chung một trang kinh “vô tự”

Ấy thiên lương cẩm tú con người

Cái thiên lương đẹp tuyệt vời

Nó cung ứng cái mặt trời lương tri

 

 

Là cái đức tư duy hướng thiện

Biết điều chân điều thiện mà yêu

Chẳng cần chữ nghĩa bao nhiêu

Cái tâm thuần khiết thuận chiều chi sơ

 

Ngoài cái lương tri cho ánh sáng (490)

Để biết phân đôi dạng chánh tà

Còn một bản năng nữa là:

Cái lương năng đó giúp ta “ở đời”

 

Nghĩa là biết thương người thương vật

Biết kính mười phương trời Phật, tổ tiên

Biết ăn ngay, biết ở hiền

Biết hối lỗi, lại biết quên hận thù

 

Biết những nẻo đường tu bát chánh

Biết những điều nên lánh nên xa

Móng nền thiện sẵn trong ta (500)

Cái Như Lai Tạng gọi là lương tâm

 

Lại đến cái bản năng sau rốt

Cái lương năng: làm tốt mới vui

(Ví như làm xấu cho đời

Thì lòng ắt chẳng thảnh thơi chút nào!)

 

Cái lương năng tự hào, tự giác

Nó khiến tâm Bồ Tát khôn khuây

Chỉ mong chìa được bàn tay

Để mà cứu độ xưa rày bà con

*Lương tri lương năng: Lương: Tốt, lành, hay, khéo, giỏi. Tri: sự hiểu biết. Năng: khả năng.

- Lương tri là sự hiểu biết sẵn có do Trời phú cho, chớ không phải do học tập mới biết được.

- Lương năng là sự tài giỏi vốn có do Trời phú cho để làm được điều lành điều tốt.

Sách Nho có câu: "Nhân chi sở bất học nhi năng giả, kỳ lương năng dã; sở bất lự nhi tri giả, kỳ lương tri dã." Nghĩa là: Người không học mà giỏi là lương năng vậy; không suy nghĩ mà biết là lương tri vậy.

Ba cái bản năng thường tự hữu (510)

Gộp lại thành một chữ thiên lương

Ấy là Phật pháp vô môn

Ấy là Phật tánh vô cương nhiệm mầu

 

Cái Phật tánh tự làu minh nguyệt

Chẳng còn ai điểm chuyết mà chi

Chẳng qua trăng nọ mờ đi

Là vì tam chướng một khi phủ mờ

 

Mà, để được tinh mơ y cựu

Thì chúng sanh phải tựu thành mình

Nghĩa là tự quét vô minh (520)

Để đi tới cõi vô sinh trăng rằm

 

Có hai lối để thăng hoa Phật

Một là tâm độc giác như nhiên

Hai là theo pháp thiêng liêng

Của đức Di Lặc phổ truyền Long Hoa

 

Nay hỏi Di Lặc là ai thế?

Kể từ ngày thọ ký muôn xưa

Khứ lai cho tới bây giờ

Đã bao nhiêu bận Phật thừa chuyển luân

 

Và người đã hóa thân bao bận (530)

Trên con đường độ tận chúng sinh

Khi thì làm vị Khổng Minh

Xiển dương Cơ, Lý, đẹp kinh nhân thừa

 

*Tam Chướngđược dịch từ chữ Pali: Tayo kincana. Ba điều ấy là Tham, Sân, và Si. Tam Chướng đôi khi còn được gọi là ba bất thiện căn. Chính ba điều chướng ngại này là nguyên nhân của tất cả mọi khổ đau và khiến cho chúng sanh chìm đắm trong vòng luân hồi sanh tử. Kết quả gây ra bởi Tam Chướng gọi là Phiền não. Chỉ có trí tuệ thấu triệt được chân tướng của vạn hữu mới có thể tiêu diệt được tam chướng và khử trừ được phiền não.

Khi thì làm Đại Sư Bố Đại

Hạnh đầu đà vô ngại đại bi

“Làm chi cũng chẳng làm chi

Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao!”

 

Tự tại giữa ba đào sóng gió

Giữa phong trần khốn khó tỳ khưu

Nhất bát thiên gia phạn (540)

Cô thân vạn lý du

Bụng thì y hệt cái lu

Miệng thì tếch toác lu bù cười vui

 

Vác cái túi bự ơi là bự

Ai cho gì đều bỏ vào trong

Dù ngon, dù dở cũng xong

Dù dơ dù sạch, cũng không nề hà

 

Cái tâm ấy chẳng là tâm Phật?

Chẳng biệt phân nhị nhất tứ tam

Cái tâm thái cực hồng hoang (550)

Bên trong nó ẩn cả càn khôn kia

 

Vì chân chẳng phân chia ranh giới

Chẳng phân chia nhất với nhị nên

Đại Sư Bố Đạivô duyên

Thong dong rảo gót trên miền vô sinh

 

Chẳng nương tựa bóng hình hảo tướng

Chọn cái thân bồ tượng béo lùn

Chẳng cần quần áo tinh tươm

Ba nghìn tế hạnh vuông tròn uy nghi

Cứ như thế đời chi ta nấy: (560)

Đời lầm than, ta vậy lầm than

Đời lang thang, ta lang thang

Đời côi cút, ta lại càng cút côi!

 

Cứ như thế! Đạo đời là một

Nghĩa cư trần cùng tột trần cư

Lạc đạo cùng tột chân như

Nhị biên xóa sạch đôi bờ sắc không

 

Ấy chính nghĩa một dung hai nhiếp

Xả tận cùng ắt nhiếp tận cùng

Từ bi hỷ xả thần thông (570)

Thảy đều nằm gọn ở trong tâm này

 

Đại Sư Bố Đạirày du hý

Ấy bởi vì nhất nhị dung thông

Có mình nên có đục, trong

Có mình nên có long đong Nại hà!

 

Như mình đã vượt qua tiểu ngã

Cái ngã lục căn, ngã lục trần

Cái ngã ý thức lần khân

Nó ràng nó buộc tinh thần bản nhiên

 

Ắt mình sẽ vượt trên tiểu ngã (580)

Để trở về diệu ngã thênh thang

Long Hoa thắng hội Niết Bàn

Cùng Phật Bố Đại xênh xang nụ cười

 

*Nhị biên: có nghĩa là hai bên

Theo truyền thuyết xưa, thời Bố Đại

Sinh vào đời ngũ đại triều Lương

Một đời dãi nắng dầm sương

Vai mang túi vải cúng dường Phật ân

 

Khắp thiên hạ chúng nhân đàn Việt

Ai cho gì, bỏ hết vào trong

Rồi khi dừng lại thong dong (590)

Mở bao, moi hết bên trong tặng người

 

Trước khi tịch, còn lời di huấn

Di Lặc chân Di Lặc

Phân thân thiên bách ức

Thời thời thị thời nhân

Thời nhân tự bất thức

 

Dịch nôm bài kệ nghĩa là:

Ta là Di Lặc ta là từ tôn

Mãi hóa thân thành muôn vạn ức

Để bảo ban hạnh phúc cho đời (600)

Bao lời nhắn bảo không thôi

 

Mấy ai rõ đấng Phật cười là ta

Sau khi Khế Đầu Đà viên tịch

Đời mới hay lai lịch đại sư

Chính là Bồ Tát họ Từ

Long Hoa Hội Chủ chính Như Lai này

 

*Triều Lương  (502-557), còn gọi là nhà Nam Lương , là triều đại thứ ba của Nam triều trong thời kỳ Nam-Bắc triềuTrung Quốc, sau thời kỳ của triều đại Nam Tề và trước thời kỳ của triều đại Trần. Kinh đô đặt tại Kiến Khang (nay là Nam Kinh).

Nhà Tây Lương , với kinh đô nằm ở Giang Lăng năm 555 của Lương Tuyên Đế Tiêu Sát, cháu nội của người sáng lập ra nhà Lương (Lương Vũ Đế Tiêu Diễn), được cho là triều đại kế vị hợp pháp của nhà Lương; trên thực tế chỉ là chư hầu của các triều đại kế tiếp nhau như nhà Tây Ngụy, nhà Bắc Chunhà Tùy. Cuối cùng, triều đại này bị Tùy Văn Đế xóa bỏ năm 587.

Bấy giờ khắp đông tây nam bắc

Mới định hình Di Lặc thế tôn

Qua hình ảnh vị “sư cuồng”

Khế Thử Bố Đại Triều Lương- mà thờ (610)

 

Lại, để diễn được Như Lai Tánh

Qua công phu phẩm hạnh vô biên

Công phu bất động địa thiền

Nghệ nhân đắp tượng còn thêm quanh ngài

 

Năm đứa trẻ trêu tay, chọc mắt

Cả năm căn, tất tật châu thân

Tượng trưng lục tặc, lục trần

Tha hồ quậy phá kim thân Đại Từ

 

Mà Phật vẫn như như bất động

Miệng vẫn cười tươi giống hài nhi (620)

Ấy là lòng chẳng bận chi

Cứ hài nhi tựa như khi vô tình

 

Vì đã chẳng chấp- mình- đang- có

Thì lấy chi gắn bó vấn vương

Lấy chi khổ ách tai ương

Lấy chi tang hải, đoạn trường, lấy chi…

 

Ra, bí quyết tâm kia bất động

Ấy là tâm sạch mộng thị, phi

Ý không còn giữa tư duy

Lấy chi Bảy Thức một khi hoành hành (630)

 

Thức đã lặng- vô sanh- ắt Đạo

Sẽ vuông tròn tuyệt hảo trong tâm

Như sen kia mọc giữa đầm

Như viên nguyệt nọ quang lâm giữa rằm

 

Năm đứa sẽ hiện thân lục tặc

Cứ tha hồ làm giặc quanh ta

Nhưng tâm rày đã Long Hoa

Nghĩa là vô chấp, nghĩa là vô sanh

 

Thì lục tặc dẫu đành hanh mấy

Cũng không lay chuyển vậy thiền tâm (640)

Nên sen vẫn mọc giữa đầm

Nụ cười Di Lặc vẫn xuân muôn đời

 

Long Hoa hội thượng ngời chân tánh

Ngời ba ngàn tế hạnh uy nghi

Ba ngàn tế hạnh là chi

Chẳng qua bốn chữ uy nghi tâm mình

 

Vì tâm mình hiển linh tâm Phật

Vì tâm mình đích thật Như Lai

Một khi tâm trở về ngai

Bấy giờ thế giới hiện bày Long Hoa (650)

 

Trở lại chuyện Thích Ca thọ ký

Rằng: ba mươi thế kỷ tương lai

Phật Di Lặc sẽ vào đời

Mở Long Hoa hội giúp người thế gian

 

Ấy là lúc đạo tràng mạt pháp

Ngũ trược tràn đầy ác thế kia

Chúng sanh vướng nạn phân chia

Duy thần, duy vật chia lìa chánh tâm

 

Khi đã “bé cái lầm” chân lý

Vướng mắc vào cái ý tà ma (660)

Vướng vào cái thức mạt na

Ắt trầm luân giữa ta bà chẳng sai

 

Buông bỏ mất như lai tạng tánh

Ta bà theo ác hạnh sở tri

Buông lơi hỷ xả từ bi

Tâm ba độc tham, sân, si hư đời!

Nhắc lại lời Phật thời tại thế

Rằng ba mươi thế kỷ về sau

Giữa thời cùng cực bể dâu

Hễ có Di Lặc mở đầu Long Hoa (670)

 

Có điều là giữa ba thiên kỷ

Đức Thế Tôn Từ Thị đảm đang

Vẫn chẳng hề bỏ thế gian

Vẫn tùy phương tiện cưu mang phận người

Khắp bốn phương đất trời thiên hạ

Vẫn tùy duyên hiện hóa nhân thiên

Giúp đời gỡ mối oan khiên

Cho dân gian sớm hiện tiền Long Hoa

*Ngũ trượclà năm thứ dơ dáy ở cõi Ta Bà, Đức Thế Tôn thường gọi cõi Ta Bà là cõi ác lụy, tràn đầy năm thứ trược

1. Kiếp trược: Còn gọi là kỳ kiếp trược vào thời giảm kiếp, con người ta tuổi thọ giảm dần, đến khi tuổi thọ còn 10 tuổi thì hết cái giảm kiếp.

2. Kiến trược: Sự thấy biết ô trược con người có cái thấy biết tà vạy,chấp quấy bỏ phải, theo tà bỏ chánh, điên đảo, thiên lệch.

3. Phiền não trược: Các mối mê dục phiền muộn ô trược con người trong tâm chứa đầy những tham lam, giận hờn, mê muội ngu si.

4. Chúng sanh trược: Chúng sanh ở cõi ô trược này bám chấp vào sanh mạng mình là thật có, nên hằng bị khổ não tai nạn, ít được an nhàn.

5. Mạng trược:  Đời sống ô trược, bởi đời sống con người ta giảm dần, cho nên trong đời họ, họ phạm rất nhiều tội lỗi, họ lo tìm hưởng các điều thỏa thích về vật chất ô trược, chẳng lo tu hành, nên cuộc sống của họ tạo vô số ác nghiệp.

Khi thì ứng hiện ra Gia Cát

Cứu Trung Hoa vượt thoát điêu linh (680)

Viết nên thần toán Khổng Minh

Đem bao đạo lý nhân sinh dạy đời

 

Dù sách mượn điềm nơi lý dịch

Để vẽ nên quyền lực đời người

Những thăng trầm những tới lui

Những vinh nhục những buồn vui bao điều

 

Nhân hết thảy ngọn triều bát quái

Nhân đi rồi, nhân lại đổi phen

Cũng đều nương một lý huyền

Ấy là tâm thiện làm nên số phần (690)

 

Thì ra chính thiện tâm là chủ

Ấy đức năng thắng số lẽ mầu

Nói đi nói lại lẽ nào

Cũng đều lấy đức đi vào Long Hoa

 

Mà đức của Long Hoa là nhất

Ấy là tâm vô chấp vô sinh

Một khi tâm bặt phàm tình

Ấy là thần toán Khổng Minh tuyệt vời!

 

Truyền thuyết nói chính người chủ soái

Nhà binh thư vĩ đại Trung Hoa (700)

Là từ Di Lặc hóa ra

Để đưa binh pháp vào nhà Phật môn

 

Như ở trước Phật đường thường tạc

Hai vị thần hộ pháp hai bên

Một ông dữ, một ông hiền

Dữ để răn chúng, hiền nên hộ trì

 

Dẫu đức Phật từ bi phổ độ

Cũng cần phương phạt dữ thưởng lành

Ấy là phương pháp độ sanh

Cho nên hóa hiện Khổng Minh cũng thường (710)

 

Lại, từ đó suy luôn truyền thuyết

Thế kỷ hai mươi tuyệt bạo tàn

Bao nhiêu ác quỷ ma vương

Hiện thân nhân loại khuếch trương hận thù

 

Đẩy thế giới sát bờ hủy diệt

Xác chúng sinh la liệt địa cầu

Loài người càng khổ càng đau

Thì Từ Thị Phật, càng giàu xót thương

 

Càng hóa hiện dập dồn khắp chốn

Mang đủ hình đủ tiếng nhân sinh(720)

Xưa thì Bố Đại Khổng Minh

Nay thì lắm bậc cao minh nhân hiền

 

Ví dụ như ở bên Ấn Độ

Có đạo sư chấn ngộ diệu kì

Tên là Kỳ Na Mộc Ty

Vốn là vị đại lương y Định Thiền

 

*Kỳ Na Mộc Ty: phiên âm từ chữ  Krishnamurtihay J. Krishnamurti , ông Krishnamurti sinh ngày 12 tháng 5, 189517 tháng 2, 1986 là một tác gia và nhà diễn thuyết nổi tiếng về các vấn đề triết học và tinh thần. Các chủ đề bao gồm (nhưng không giới hạn): mục đích của thiền định, mối quan hệ giữa con người, và phương cách để tạo nên sự thay đổi xã hội tích cực trên phạm vi toàn cầu.

Đã từng nhất bát thiên gia phạn

Lại cô thân mà vạn lý du

Chối từ địa vị tôn sư

Không danh không phận, y như người thường (730)

 

Lại cũng chẳng dùng môn bút mực

Chỉ nương vào năng lực tâm linh

Biện tài vô ngại nhất sinh 

Giải muôn câu hỏi hữu tình thế gian

 

Thanh thản mở con đường giải thoát

Bằng tâm linh Đại Bát Niết Bàn

Vượt qua triền phược thế gian

Đi vào cảnh giới thênh thang nụ cười

 

Truyền thuyết nói rằng người chính thị

Là hiện thân Từ Thị Thế Tôn (740)

Đã, trong tám chục năm trường

Thiện long thánh chủng mười phương đông đoài

 

Có một điều ai ai cũng thấy

Là Kỳ Na quả vậy kỳ nhân

Một đời sống với đạo tâm

Chưa từng nghĩ đến bản thân bao giờ

 

*ĐẠI BÁT NIẾT BÀN là một thuật ngữ, Phạn ngữ gọi MA HA BÁT NIẾT BÀN NA (Mahaparinirvana). Các nhà Phật học tiền bối dịch có nhiều nghĩa:

Đại nhập diệt tức 
Đại diệt độ 
Đại viên tịch nhập 

Từ ngữ để diễn đạt về MA HA BÁT NIẾT BÀN NA thì có khác như thế, nhưng ý nghĩa thì không có gì chống trái mà cùng gặp nhau ở điểm:

Niết bàn là cảnh giới sở chứng ở nội tâm của con người dứt hết phiền não, dứt hết sinh tử, viễn ly các tướng, viễn ly các hành, an trú tâm thanh tịnh, vắng lặng và vắng lặng một cách trọn vẹn, tận cùng trọn vẹn.

 

*Kỳ Na: hán dịch: thắng giả. Danh từ tôn xưng đức Phật. kinh Phật bản hạnh tập quyển 1 nói: “như lai trụ nơi hạnh Phật; không còn phiền não, nên gọi Kỳ Na

Hạnh xả kỷ ưng vô sở trụ

Suốt đời không trụ xứ nơi đâu

Gót hài đi khắp năm châu

Tới đâu, bất cứ nơi đâu người cần (750)

 

Không tiền bạc, cũng không chức phận

Không vợ con, cũng chẳng người yêu

Tấm lòng rộng mở bao nhiêu

Chân thiện mỹ! Ấy người yêu của người

 

Món pháp khí rạng ngời thế kỷ

Ấy chiếc rương hành lý đơn sơ

Người dùng, trải suốt xuân thu

Bảy mươi năm, đẹp hạnh tu Đầu Đà

 

Truyền thuyết bảo người là Di Lặc

Là đương lai tôn Phật ứng thân (760)

Đúng chăng? Khôn tỏ cơ thần

Chỉ hay về lý nhất chân! ắt là…

 

Vì đức ấy cũng là hạnh ấy

Trí tuệ kia với lại tâm này

Vì không phải đức đương lai

Hạ sanh Di Lặc còn ai nữa kìa?

 

Bên Tỳ Na Mộc Ty đương đại

Còn bao gương từ ái nguy nga

Tượng trưng Từ Thị Long Hoa

Nay cùng xưa: nay cũng là ứng thân (770)

 

Ví như đức vua Trần thuở nọ

Trần Nhân Tông – Điều Ngự Giác Hoàng

Một thời hạnh đức thênh thang

Sánh cùng Phật Tổ cao sang đôi phần…

 

Thì cũng một hùng tâm dứt bỏ:

Bỏ ngôi vương giả nọ, xuất gia

Lại từ bỏ cái nguy nga

Của ngôi tăng bảo, hồi gia kịp thời

 

Để mà cứu lấy đời trăm họ

Trước họa quân Mông Cổ xâm lăng (780)

Trên vì nước, dưới vì dân

Đức hy sinh nọ, xứng tầm Long Hoa!

 

Cư trần lạc đạo là cứu cánh

Là gốc Bồ Tát hạnh xưa nay

Mà Giác Hoàng tuyệt vời thay! 

Lại đem thực hiện ở ngay đời mình!

 

Để sáng nghĩa độ sinh hùng vĩ

Sáng nghĩa dân vi quý vạn đời

Cho nên truyền thuyết một lời

Rằng Giác Hoàng chính nụ cười Long Hoa (790)

 

Lại còn nữa: nước ta còn một

Bậc vĩ nhân cùng tột vĩ nhân

Tài cao đức trọng mười phân

Phiến đan tâm, phiến hùng tâm tuyệt vời!

 

Lại còn đạo tâm ngời Phật tuệ

Tỏa ra trong dịch lý Trình Tuyền

Lại trong những áng thơ tiên

Thanh cao thoát tục vượt trên tình đời

 

Cứ nghe thử những lời sấm trạng

Ắt thấy ra linh cảm trọn lành (800)

Long vĩ Xà đầu khởi chiến tranh

Can qua xứ xứ khởi đao binh

Mã đề dương cước anh hùng tận

Thân Dậu niên lai kiến thái bình

 

Bao cuộc chiến phát sinh rồi nhỉ!

Bắt đầu từ Long vĩ cuối Thìn

Để rồi đầu Tỵ bùng lên…

“Xà đầu” khởi động triền miên ba đào

 

Bao cuộc chiến kể sao hết nhỉ?

Bắt đầu từ Long vĩ Xà đầu (810)

Cuối rồng khởi cuộc bể dâu

Cho vô số kẻ mày râu bỏ mình

 

Qua Ngọ Mùi chiến tranh mới dứt

Cho nhân gian tạm cuộc hòa bình

Để rồi lại khởi đao binh

Bao phen Thìn Tỵ chiến tranh dập dồn

 

Gẫm cái lẽ: càn khôn dĩ định

Buổi thanh minh, thời tiết hoa tàn

Dương đầu Mã vĩ gian nan

Hồ binh bát vạn nhập Tràng An kia (820)

Dương đầu Mã vĩ: thời gian của

Ngọ và Mùi một thuở tương tranh

Hạ ngươn: bao của tranh giành

Hết tranh chánh nghĩa lại tranh lợi quyền

 

Từ cố chấp hóa nên tranh chấp

Cho xương kia chật đất, máu kia

Tràn sông huyết lệ đầm đìa

Nỗi đau cốt nhục ê chề sử xanh

 

Bao nhiêu cuộc phân tranh đất nước

Đã được lời “báo trước” không sai (830)

Nói chi những chuyện dong dài

Lấy ngay lời trạng chỉ bày …phương nam

 

Trước lời sứ Nguyễn Hoàng hỏi kế

Trình quốc công cư sĩ Bạch Vân

Đứng trước núi giả, trầm ngâm

Chỉ vào đàn kiến âm thầm hành hương

 

Mà bảo sứ: “hoành sơn nhất đái

Chốn “dung thân vạn đại” đừng quên!

Một lời nói “rất nên thiêng”

Chỉ cho dânViệt đường lên mặt trời! (840)

 

Trên năm thế kỷ rồi, có phải

Từ Nguyễn Hoàng vượt dãy Hoành Sơn

Đến bây giờ …để biên cương

Con Hồng cháu Lạc càng vươn lẫy lừng

 

 

Bao nhiêu cuộc tranh hùng trong nước

Lại cuộc xuân thu suốt hành tinh

Đã từng được sấm Trạng Trình

Dùng bao lời lẽ u minh tỏ bày

 

Chuyện chưa xảy, chưa hay, chưa biết

Xảy ra rồi sao thiệt in như!(850)

Ấy là đặc điểm sấm truyền

Khiến cho cái tỏ nằm bên cái mờ

 

Và cái lý “thiên cơ bất khả…”

Được giữ gìn không ngả không nghiêng

Để cho diệu lý cơ huyền

Chẳng hề bị kẻ đảo điên xí phần

 

Phần kì diệu ta cần lưu ý

Là Bạch Vân cư sĩ Trạng Trình

Ngoài lời sấm ký siêu linh

Dựa theo thái ất thần kinh nhiệm mầu (860)

 

Còn là bậc công hầu thi bá

Với những vần thơ quá tuyệt vời

Chở chuyên ý Phật tình người

Mỗi lời bày tỏ đạo trời như nhiên

 

Những thi phẩm đáng thiên tuyệt tác

Ngàn đời sau chưa chắc ai hơn

Những từ chân thật giản đơn

Ý mà sâu nhiệm như nguồn Long Hoa

 

Cứ thử nhẩm đôi ba vần thử

Như bài thơ tả phú nhàn sau:(870)

Một mai một cuốc một cần câu

Thơ thẩn nào ai vui thú nào

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Rượu đến gốc cây ta sẽ nhấp

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

 

Ý thơ sao quá thanh cao

Lời thơ sao quá ngọt ngào chân như (880)

Vị thơ khéo vô dư Bát Nhã

Hương thơ ngan ngát tỏa vô ưu

Từng lời, từng chữ, từng câu

Đều xinh, đều đẹp, đều sâu, đều huyền

 

Vừa hàm chứa cái thiêng của kệ

Vừa ẩn tàng cái tuệ của kinh

Bài thơ mà giống bài kinh

Phật Di Lặc hóa thân Trình Tuyền chăng?

 

Thơ cụ Trạng hàng trăm tuyệt tác

Cả Hán, Nôm man mác thiền phong (890)

Ngày chầy họp bạn hoa là khách

Đêm vắng hay lòng nguyệt ấy đèn

Câu thơ như đóa hoa sen

Nở thơm Lạc Việt ngát bền Long Hoa

 

 

Trở lại chuyện sấm ca huyền bí

Đã thiên cơ thêm ý vị thiền

Thử nghe bát cú một thiên

Đã xinh như nước, lại huyền như mây

 

Kìa cơn gió thổi lá rung cây

Rung bắc sang nam đông tới tây (900)

Tan tác kiến kiều an đất nước

Xác xơ cổ thụ sạch am mây

Sơn lâm nổi sóng mù thao cát

Hưng địa tràn dâng Hóa nước đầy

Một vó một yên ai sùng bái

Cha con nhà Vĩnh Bảo cho hay

Bài thơ linh, đẹp lắm thay!

Bởi linh nên sấm đẹp rày nên thơ

 

Trước hãy nói về cơ về sấm

Gió thổi rung cây ẩn nghĩa gì?(910)

Ấy vào thuở vận nước suy

Giặc Tây xâm lược khác gì cuồng phong

 

Khắp bốn phía tây đông nam bắc

Giặc tiến công dồn dập quê ta

Kiến An tan tác cửa nhà

Cổ Am xơ xác, rồi là Sơn Thao

 

Cơn gió thổi lao đao Hưng Hóa

Cả bắc phần tơi tả gió mưa

Cuộc cờ một ngã về thua

Hỏi thăm Vĩnh Bảo, ngôi vua thế nào?(920)

 

Vĩnh: Vĩnh Thụy, vương trào Bảo Đại

Vua mất quyền chỉ tại vị chơi!

Sơn hà một trận tả tơi

Sấm xưa ghi rõ một thời hôm nay!

 

Ấy chuyện sấm tỏ bày đã rõ

Nay nói sang chuyện của bài thơ

Thì! Bài thơ thật là thơ

Sánh cùng Gia Cát nào thua kém gì!

 

Thơ đường luật mà ghi Sấm Trạng

Mỗi lời thơ cáng đáng thơ thay (930)

Thơ hay, Sấm chẳng ai tày

Rõ ràng nước Việt tỏ bày Long Hoa

 

Vả, Di Lặc chính là tâm Phật

Khi tâm linh rất mực tâm linh

Tha tâm thôngđã tròn xinh

Một khi thấy rõ phàm tình thế gian

 

Lại túc mạng thông càng vẹn vẻ

Khiến người nhìn rành rẽ tương lai

Thấy ngày qua, thấy ngày mai

Ghi ra sấm trạng một hai cho tường (940)

 

Những lời sấm như sương như khói

Chỉ mỗi khi việc tới mới hay

Như trong thơ có câu này:

Tan sương đầu ngỏ, vén mây giữa trời

 

Bao nhiêu là sấm người ghi rõ

Lại vừa như chưa tỏ đúng không?

Ví như đoạn kết sấm thần:

Cơ nhị ngũ thư hùng vị quyết

Đảo hoành sơn tam liệt ngũ phân

Ta hồ vô phụ vô thân (950)

Đào viên tán lạc ngô dân thủ thành

Đoài phương phước địa giáng linh

Cửu trùng thụy ứng long thành ngũ vân

Phá điền thiên tử giáng trần

Dũng sĩ tựu hải, mưu thần như vân

Trần công nãi thị phúc tâm

Giang hồ tử sĩ Đào Tiềm xuất du

Tướng thần hệ xuất y chu

Thủ kỵ phụ kiến đường ngu thi hành

 

Hiệu xưng thiên hạ thái bình (960)

Đông Tây vô sự Nam thành quốc gia

Rõ ràng đoạn kết này là

Nói về chung vận sơn hà nước Nam

 

Những lời sấm ẩn tàng một nghĩa

Đã đành, qua đại thể chung chung

Việt Nam, trải vạn điều hung

Cuối cùng cũng được tháp tùng Long Hoa

 

Đã đành thế, nhưng mà chỉ tiếc

Của ngày mai nước Việt ra sao

Thì ra chưa thấu được nào (970)

Chỉ còn đợi đáp số vào tương lai!

 

Chỉ biết một điều! Ai muốn được

Hưởng những điều hạnh phúc mai sau

Thì cần hướng thiện cho mau

Tu nhân tích đức làm giàu thiện tâm!

 

Thiện tâm đã mười phân viên mãn

Ắt ngày mai lại sáng trời thôi

Bao đời, đất nước, chúng tôi

Lấy câu nhân nghĩa ở đời đúng không?

 

Vì lẽ ấy hóa công đâu nỡ (980)

Phụ người hiền, phụ xứ sở hiền

Trải qua mười vạn oan khiên

Cuối cùng cũng sẽ tới miền Long Hoa

 

Trở lại lời Sấm ca cụ Trạng:

Bắc hữu kim thành tráng”long lanh

Lại “Nam tọa ngọc bích thành

Rõ ràng hậu vận sẵn dành thủy chung!

 

Lại viết: “phân phân tùng bắc khởi

Nhiễu nhiễu xuất đông chinh

Bảo giang thiên tử xuất (990)

Bất chiến tự nhiên thành

 

Bảo Giang hỏi ở nơi nào

Mà thiên tử xuất, đẹp sao nhân nghì!

Chỉ biết thiên tử kia, nếu có

Ấy là người đức độ hiếu sinh

Yêu người chi khác yêu mình

Vì người, chẳng để đao binh dập vùi

Vì sao bất chiến thôi, mà lại

Tự nhiên thành, thử hỏi trời xanh

Hỏi thiên lương của lòng mình (1000)

Hỏi Như Lai Tạng của tình thế gian

 

Để được biết con đường chơn chánh

Là nương theo nhân tánh đó thôi

Nương theo quy luật đất trời

Thừa thiên hưng vận, ắt đời quang vinh

 

Người xưa bảo muốn bình đẳng, trước

Phải tự vươn cho được bằng người

Một khi đồng đẳng được rồi

Ắt chuyển bình đẳng hưởng đời cũng nên!

 

Để thực hiện lời khuyên lớn đó(1010)

Những những ông Trường Tộ, vân vân…

Đã từng cổ xúy duy tân

Để được dân tộc ngang tầm năm châu!

 

Lời sấm dạy rằng dầu “bất chiến

Tự nhiên thành”, ấy chuyện tâm linh

Một khi mình vượt được mình

Để mình ngang ngửa cái trình độ tâm

 

Nghĩa là mình ngang tầm với họ

Mình ngang tầm với nó, tất nhiên

Dù mình chẳng đòi bình quyền (1020)

Mà đương nhiên vẫn đứng trên, đứng bằng!

 

*Cổ xúy: hô hào và động viên

*Như Lai Tạng :Chỉ cho pháp thân Như Lai xưa nay vốn thanh tịnh, ẩn tàng trong thân phiền não của hết thảy chúng sinh, nhưng không bị phiền não làm ô nhiễm, bản tính vẫn tuyệt đối thanh tịnh và vĩnh viễn bất biến.

Thiên tử phá điền chăng? Có nghĩa

Ta vượt lên ta để ngang người

Một người như thế, trên đời

Gọi là thiên tử, ấy ngôi tinh thần!

 

Thiên tử, há mỗi quân vương nọ

Bậc cao nhân đức độ hơn người

Lại thêm trí tuệ tuyệt vời

Cũng là thiên tử rong chơi cõi thiền

 

Tuyệt du hí cõi miền Di Lặc (1030)

Bất chiến thôi- vẫn mặc sức thành

Đó là Bát Nhã tâm kinh

Hành thâm Bát Nhã vô sinh vô cầu

 

Nội vô sở đắc- đâu cần đắc

Ngoại vô sở cầu- mặc tự nhiên

Một chữ vô mở đường lên

Cõi thanh, cõi tịnh, cõi thiền, cõi tâm

 

Cõi Long Hoa vô nhân vô ngã

Tuyệt! Từ bi hỷ xả như như

Đương lai Di Lặc đại từ (1040)

Thiện long thánh chủng vô dư Niết Bàn

 

Sấm trạng Trình Tuyết Giang Phu Tử

Từng lời thơ chuyên chở lời kinh

Lại còn lời sấm hiển linh

Mở tâm tư Lạc Việt tình vô ưu

 

 

Những nét bút vô cầu tri chỉ

Mở đường về từ thị Long Hoa

Cư trần- trong cõi người ta

Vậy mà lạc đạo- giữa tòa vô sinh

 

Bốn biển vui theo người đạo đức (1050)

Khắp nơi lại thấy cảnh thanh bình

Xưa nay nhân giả là vô địch

Lọ phải khư khư thích chiến tranh

 

Vẫn là một đạo lành vô thượng

Tâm chân như không vướng hận thù

Ví như có kẻ thù ư ?

Chẳng là ai khác, thiên thu: mỗi mình

 

Ôi lời dạy hiểu mình thâm thúy

Chở chuyên tròn chân lý như nhiên

Mở đường cứu rỗi Tam Thiên (1060)

Thoát ly oan nghiệt não phiền xưa nay

 

Vì sao có đọa đày nghiệp chướng

Mỗi vì lầm đối tượng đấy thôi

Kẻ thù ta, đâu phải người

Kẻ thù ta mỗi là tôi đấy mà!

 

Tôi, có nghĩa là cái ta mê muội

Từ muôn xưa, tội lỗi chất chồng

Những gì chất chứa bên trong

Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi lung tung phèng…

*Tam thiên:Gọi đủ: Tam thiên pháp, Tam thiên pháp môn, Tam thiên thế gian, Tam thiên chư pháp. Tức là từ chỉ chung tất cả muôn pháp.

Ái, Ố, Hỷ, Nộ, Ai, Lạc, Cụ (1070)

Ghét, thương, mừng, sợ, giận, buồn, vui

Ngần ấy thứ của thằng tôi

Làm ra cái kẻ thù ngồi trong tâm

 

Khiến trăm nghiệp mê lầm chất nặng

Mỗi ngày thêm một đắm chìm hơn

Nại hà sôi huyết từng cơn

Oán kia, thù nọ dập dồn thiên thu

 

Cứ mãi đui mãi mù đối tượng

Ngỡ kẻ thù tưởng tượng ngoài ta

Đâu hay kẻ thù chính là (1080)

Cái vô minh ngự trong ta xưa rày

 

Khi giác ngộ điều này, hành giả

Sẽ biết đường quay ngả cung tên

Thay vì chĩa bậy chĩa xiên

Thì ta chĩa đúng trái tim kẻ thù

 

Nghĩa là chĩa đúng như chỗ nó

Ấy là vô minh giữa tâm này

Nghĩa là chính cái ta đây

Diệt xong chính phạm, thấy ngay Niết Bàn

 

Long Hoa hội huy hoàng thế kỷ (1090)

Của đương lai từ phụ Thế Tôn

Một phen mở cửa vô môn

Mời ta dạo gót trên đường vô sinh

 

 

Nhắc lại chuyện trạng trình thánh triết

Mà La Sơn Nguyễn Thiếp từng phê

“Huyền cơ tham tạo hóa” kia

Mà truyền thuyết đã từng khi gọi là

 

Hóa thân đức Long Hoa Di Lặc

Đem sấm thơ dìu dắt dân ta

Dùng lời quốc ngữ nôm na (1100)

Chở chuyên ba tạng kinh tòa Phật môn

 

Lời sấm trạng tuyên ngôn khai bút

Vận lành mừng gặp tiết lành

Thấy trong quốc ngữ lập thành nên câu

Mỗi câu là một nhiệm mầu

Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao

 

Lời chẳng khác ca dao quê mẹ

Nhưng ý thì như bể như non

Mấy vần chở cả càn khôn

Biểu trưng Di Lặc, tượng hồn Long Hoa (1110)

 

Anh hùng, giữa đời là ai nhỉ?

Ấy là người ngộ lý vô sanh

Vận lành nên gặp tiết lành

Tuệ đi với phúc, song hành Phật môn

Đại Nam văn hiến trường tồn!… (1115)

 

Tổng cộng có: 8169 câu

Kết thúc ngày 13 tháng 08 năm 2010

(Nhằm ngày mùng 04 tháng 07 năm Canh Dần)

2000 cuon

Nha Xuat Ban Ton Giao

795 - 2010/CXB/17-128/TG

Toàn bộ lợi nhuận của công ty cổ phần Đại Nam không chia cho cổ đông. Lợi nhuận sau khi tái đầu tư, công ty sẽ dành 100% lợi nhuận còn lại cho quỹ từ thiện Hằng Hữu hoạt động vì cộng đồng, đặc biệt là chương trình mổ tim dành cho trẻ em