Tại - Phần 1

Tại - Phần 1

LỜI THƯA

Tại, Bị… là tiếng đầu cửa miệng của mọi người trên đời này. Khắp thiên hạ từ Vua cho đến dân, già đến trẻ, tăng cho đến tục, ai ai cũng không tránh khỏi, không nhắc đến hai tiếng ấy. Trong ngôn ngữ thường trực của mình. Vì sao? Vì Tại, Bị … suy cho cùng chính là thực tiễn là định luật, là bản chất của cuộc nhân sinh. Mỗi mỗi kiếp người không trừ một ai, đều nằm trong quyền lực của “ Bị, Tại” chịu sự tác động của nó chẳng dễ thoát ra ngoài. Mọi sinh vật, trong đó có con người, có thể có những ảo tưởng về sự chủ động của mình trong cuộc sống, thực tế tất cả đều chẳng thoát khỏi sự tác động của những điều Bị này Tại kia. Nó khiến cho mọi hành vi, thành bại của con người trở nên hạn chế rất nhiều chẳng khác gì thân phận một con rối, một con vụ – quay và cuồng dưới lực tác động thoát ra từ chỗ khác, từ người khác, phải tự do mình. Lực ấy, lực taiquái ấy, theo quan điểm của nhà Phật có tên là nghiệp lực. Do từ vô minh mà có, vô minh từ vô thủy. Tạo thành Tham, Sân, Si thành Mạn, Nghi thành ngã chấp, pháp chấp tất cả các mối “hầm bà lằng” ấy tạo nên một cái lực rất nên tai quái quấy đảo con người.

 Khiến con người như trên đã nói, mất hết thế chủ động – không làm chủ được mình, mỗi mỗi đều “ Bị”, “Tại”.

Từ đó mà sinh ra biết bao thảm kịch – thảm kịch đời người.

Tên Cùng Tửăn mài, ăn xin, đầu đường xó chợ, bèo dạt hoa trôi. Thân phan rong rêu, nếu muốn thoát khỏi thân phận ấy của mình, chỉ còn mỗi một cách là tìm lại được Viên Ngọc của chính mình. Viên Ngọc tên gọi là Như Lai Tạng Tánh, Phật Tánh, Chân Tâm.

Mà muốn tìm gặp lại Viên Ngọc chính mình ấy thì phải có “chút công phu”.

Tập thơ Tại này trân trọng cống hiến pháp môn công phu ấy.

 

 

                                                     Đệ tử tại gia

                                                    Huỳnh Uy Dũng

 

 

TẠI…?

(PHẦN 1)

Nhân sinh bách tuế vi kỳ (1)

Cũng vì hai chữ Tại Vì mà ra

Đời người trăm nỗi phong ba

Cũng do chữ Tại gây ra phong trần

Mọi đoạn trường kiếp trầm luân

Thảy đều do chữ Tại lần khôn kia

Tạilà bởi tại, tại

Nói gọn là Tại tham sân si mà…

Trăm nămtrong cõi người ta

Đầu nguồn khổ hận chính là cái tham.  (10)

 

 

Ví không có chữ tham lam

Lấy chi nhân loại lầm than như vầy.

Bốn phương nam bắc đông tây

Thảy do Tại bị tham này nhiễu nhương

Khác chi ngựa chứng không cương

Hất tung xuống vực người đang cưỡi mình

Tham danh, tham lợi, tham tình

Tham phúc lộc thọ khương ninh (2) bộn bàng

Vì tham mà dạ chẳng an

Có mong có nữa, tham càng tham hơn.   (20)

 

 

 

 

 

 

(1).Người sống được trăm tuổi là điều hiếm có xưa nay.

(2). Phúc, lộc, thọ, khương, ninh: Hạnh phúc. Tài lộc. Sống lâu. Khỏe mạnh. Yên ổn.

Nhân sinh một kiếp vô thường

Có ai vạn thọ vô cương bao giờ ?

Vì tham cái thọ vu vơ

Nên bao kẻ học đòi vua Thủy Hoàng.

Đi tìm huyễn hoặc (3) tiên đan

Những mong bất lão để tràng sinh chơi

Nhưng thử xem ở trên đời

Có ai thọ được tuổi trời ngàn năm?

Ví dù Bành Tổ hay chăng

Chẳng qua huyền thoại (4)sao trăng đỡ buồn.  (30)

 

Nhân sinh bách tuế đạo thường

Bóng câu qua cửa, hạt sương treo cành

Kiếp người quả thật mong manh

Nhưng bên trong có chữ thành kim cương

Chữ thành thể hiện thiên lương

Để cho cuộc sống nên hương nên trầm.

Ở đời mà có thành tâm

Thì dù cuộc sống ngang tầm phù du

Nhưng bên trong cái hư phù(5)

Vẫn long lanh cái thiên thu gương rằm.   (40)

 

 

 

 

 

 

 

 

(3): Huyễn hoặc: không có thật.

(4):Huyền thoại: câu chuyện huyền hoặc, kì lạ, hoàn toàn do tưởng tượng.

(5):Hư  phù: phù phiếm, không thiết thực.

Trở về chữ Tại trăm năm

Tạilòng tham, để mù tâm mặt trời

Để mù tâm cả nụ cười

Chỉ còn suối lệ trào khơi ái hà!(6)

Tham danh tham lợi sa đà

Nhứt là tham chính cái ta của mình.

Cái ta của nhục của vinh

Của Lục Dục, của Thất Tình lao đao.(7)

Cái ta thọ mệnh là bao

Chẳng qua một hạt mưa rào bể đông.  (50)

 

Có thì có đó mà không

Vậy mà sao lắm chông gai đọa đày!

Cũng vì cái chữ Tại này

Tại vì…Bởi Tại… Thày lay lật lường

Như con Vụ múa quay cuồng

Tại vì … bởi Tại … dập dồn sức quay

Sức nào tạo sức quay đây

Sức tham, sân, với si này chớ ai

Sức tham tạo lực dong dài

Làm quay con Vụ mãi hoài không ngưng.  (60)

 

 

 

 

 

(6):Ái hà: tiếng thốt ra biểu lộ sự thích thú hay ngạc nhiên.

(7): Thát tình: Hỷ, Nộ, Ái, Ố, Ai, Lạc, Dục.(mừng, giận, thương, ghét, buồn, vui, muốn)

Lục dục:1. Sắc dục:   ham muốn nhìn thấy sắc đẹp. 2. Thinh dục:   ham muốn nghe âm thanh êm tai. 3. Hương dục:   ham muốn ngữi mùi thơm dễ chịu. 4. Vị dục:   ham

muốn món ăn ngon miệng. 5. Xúc dục:   ham muốn xác thân sung sướng. 6. Pháp dục:   ham muốn ý nghĩ được thỏa mãn.

 

Làm sao cho con Vụ dừng

Hễ dừng chữ Tại thì ngưng quay cuồng

Gẫm ra trong cõi Càn Khôn(8)

Nguyên lai chữ Tại cội nguồn nhân duyên

Nếu không Chữ Tại làm nền

Lấy gì Tam Giới dựng nên công trình

“Ba gian nhà lửa” trong kinh

Cũng do chữ Tại tạo sinh mà thành.

Tạitham: tham lợi, tham danh

Tham hương, tham sắc, tham mình tham ta. (70)

(Phần 1)

 

Tham ăn tham ngủ sa đà

Tham mà chẳng đặng ắt là nổi sân.

Chữ tham mà nặng nghìn cân

Thì chữ sân cũng mười phân kém gì

Lực tham đẩy bước mình đi

Khác chi ngọn sóng cuốn về biển đông

Lực sân như ngọn lửa hồng

Tiêu tan cả vạn cánh đồng phì nhiêu

Bao công trình của tình yêu

Nhân gian gây dựng rất nhiều cưu mang. (9) (80)

 

 

 

 

 

 

 

 

(8): Càn Khôn: trời đất

(9):Cưu mang: mang và giữ gìn, đùm bọc giúp đỡ, che chở…

Chỉ cần một thoáng “sôi gan”

Thế là nát đá tan vàng còn chi

Lửa sân hung hiểm cực kỳ

Nó là cái lực Tại Vì … thứ hai.

Đưa người tới bước chông gai

Để cho nhân thế rạc rài (10)tấm thân

Nhất tham nhé! tới nhì sân

Mà tham sân nọ rất gần gũi si

Bộ ba khắn khít cực kỳ

Hễ có tham ắt có si … tam tài. (11)  (90)

 

Ba cô con gái nhà ai

Bề ngoài hấp dẫn trong thời xấu xa

Con nhà họ Tại ấy mà!

Tại Tại bởi cho ta đoạn trường

Con người muốn rước an khương

Phải thong dong giữa đạo trường an nhiên.(12)

Nhưng cái chữ Tại không hiền

Nó luôn đánh lẫn con đen mập mờ

Mượn màu tham đẹp như mơ

Mượt mà óng ả như cô láng giềng. (100)

 

 

 

 

 

 

 

 

(10):Rạc rài: gầy rạc, xơ xác, rã rời

(11):Tam tài: thiên địa nhân ( trời, đất, người). Ýtrong bài này là tham ,sân,si.

(12):An  nhiên: bình thản, an ổn( an nhiên tự tại)

Lại còn đổi họ thay tên

Chữ tham lại mạo danh nên chữ thành

Thành là thành đạt thành danh

Thành công, thành tựu… nghe hoành tráng sao!

“Thành nhân chi mỹ” (13)ngọt ngào

Biết bao vọng ngữ (14)gây bao não phiền

Gây bao vọng tưởng (15)đảo điên

Giở trò dục bị xuôi nguyên tưng bừng.

Khiến cho lực Tại không dừng

Cứ gây cảnh “chẳng- đặng -đừng” trêu ngươi.   (110)

 

Tạivì… vì Tại…thương ơi!

Bao giờ mới tự Tại đời tự do

“Thằng Bờm có cái quạt mo

Phú ông xin đổi ba bò chín trâu

Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu”

Vì chân Bờm đã thấu đầu tỏ đuôi

Rằng sinh ra kiếp con người

Chẳng chi quý bằng nụ cười hồn nhiên

Nụ cười Tại chỉ thần tiên

Nụ cười tri túc siêu nhiên siêu trần. (120)

 

 

 

 

(13):Thành nhân chi mỹ:Thành: Nên việc, kết quả, trở nên.

Nhân: người. Chi: tiếng đệm. Mỹ:

đẹp.Thành nhân chi mỹ là nên người lớn khôn tốt đẹp.

(14):Vọng ngữ:Vọng:Viễn vông, hư giả, càn bậy. Ngữ: lời nói.

Vọng ngữ là nói láo, nói dối, nói không đúng sự thật.

(15):Vọng tưởng:Vọng:Viễn vông, hư giả, càn bậy. Tưởng: ý nghĩ.

Vọng tưởng là nghĩ tưởng những việc sai trái.

Nụ cười đương xứ tức chân

Nụ cười tự Tại vạn xuân Việt Thường(16)

Vì sao Âu Lạc “ mười thương”

Là vì Tự Tại nó nhường bước cho

Để cho quê mẹ thơm tho

Nghìn năm còn vút giọng hò mang nhiên (17)

Trở về chữ Tại nhãn tiền

Bao đời nó quậy đảo điên nhân quần

Từ cái tham qua cái sân

Cái tham sân nó xoay vần qua si.  (130)

 

Si là mê muội chớ chi

Mê muội, mê mẫn, mê si, mê lầm.

Chữ si hoặc chướng trong tâm

Phủ che lớp bụi mờ câm mặt trời.

Hỡiơi! hạt ngọc tâm người

Vương mang lớp bụi ngàn đời si mê

Ngọc mà phân hóa thế kia

Lấy chi tỏa ánh diệu kì kim cương

Vì sao tơ nhện mà vương

Là vì một cái chữ thương nhân mười. (140)

 

 

 

 

 

 

 

 

(16):Việt Thường là tên của nước Việt Nam thời vua Hùng Vương.

 (17):Mang nhiên:mù mịt, không hay biết.

Một thương đã hệ lụy đời

Huống chi nhân chín nhân mười lần thêm

Có điều “thương” cũng chẳng “hiền”

Là vì đối tượng chẳng bền chắc chi.

Một là cái sắc hương kia

Xinh thì xinh thật thơm thì có thơm

Nhưng đâu giữ được trường tồn

Bóng câu qua cửa,(18) ánh gương qua mành

Hai là “tướng tự tâm sanh”

Tâm thương thì xấu cũng thành dễ thương. (150)

 

Mà khi tâm đã ghét hờn

Thì Mẫu Đơn cũng xấu hơn hoa hèn

Cái tâm cái tướng bon chen

Cái thương cái ghét cũng chèn lấn nhau

Thương mà không được thì đau

Thương mà cắt mạch thì sầu ba thu.

Huống chi thương nó ngục tù

Huống chi thương nó ao tù quẩn quanh.

Huống chi thương nó đành hanh(19)

Nó se màng nhện dệt thành cùm gông. (160)

 

(phần 2)

 

 

 

 

 

 

(18):Bóng câu qua cửa: chỉ thời gian trôi qua rất nhanh.

(19):Đành hanh: có thái độ ngang trái, đòi cho mình phải được hơn người một cách vô lí,    hay gây chuyện ngang trái, ác nghiệt.

Cái thương mê muội cái lòng

Tiêu ma (20)trí tuệ, suy vong tinh thần

Đưa người tới chốn vong thân

Tự dưng đánh mất cái chân tâm mình

Chỉ còn mường tượng bóng hình

Của ai, ai đó cho mình mình đây.

Thương ơi mặt mũi xưa nay

Tự dưng do cái thương này mà đau

Thương và đau đi với nhau

Như dây trầu với thân cau đi cùng. (170)

 

Một duyên hai nghiệp não nùng

Đó duyên ấp đó nhịp chung điệu vần

Duyên là duyên nợ theo nhân

Nghiệp là nghiệp chướng theo thân tâm này

Nợ duyên nghiệp chướng sâu dầy

Cũng vìmột chữ si này mà ra

Tham sân si ấy Tam Ma(21)

Cũng là Tam Độc, cũng là Tam Tai

Tạo nên lực Tại dong dài

Tạivì, bởi Tại…cho ai não phiền. (180)

 

 

 

 

 

 

 

(20):Tiêu ma: mất đi một cách vô ích, vô nghĩa, làm cho chẳng còn gì nữa.

(21): Tham, sân, si:Tham: Ham muốn không chánh đáng. Sân: giận. Si: mê muội.

Tham Sân Si là ba mối độc hại, gây ra nhiều điều phiền não và đốt cháy hết công đức của người tu, nên gọi chúng là Tam độc, tức là ba thứ độc hại.

Ở đời nếu có thần tiên

Là vì nhứt nhựt nhàn nên tiên thần

Nhàn là tự Tại thanh tâm

Là không bị Tại nó vần nó xoay

Vượt qua ba cái lực này

Ắt là hành giả nhập ngay Niết Bàn.(22)

Ở đời không Tại mới an

Ở đời bị Tại thì tan tác đời

Coi chừng bị Tại ai ơi!

Trong nơi bể khổ rước người trầm luân.(23) (190)

 

Ngoài ba cái lực tham sân

Si mê hoặc chướng nó vần xoay ta

Còn hai cái lực trầm kha(24)

Trước là lực mạn sau là lực nghi

Mạnlà ty mạn tự ty

Mạnlà kiêu mạn, khinh khi ngạo đời

Ty mạn: cam đứng dưới người

Tự cho mình cát bụi đời rong rêu

Kiêu mạn, ngỡ mình cao siêu

Đứng trên thiên hạ, hiu hiu mặt mày.   (200)

 

 

 

 

 

 

(22):Niết Bàn: Niết Bàn là cảnh giới hoàn toàn sáng suốt, thanh tịnh, tốt đẹp,

là cảnh giới cuối cùng mà người tu hành theo Phật giáo mong muốn đạt được.

(23):Trầm luân:Trầm: Chìm xuống, sâu kín. Luân: chìm đắm. Trầm luân là chìm đắm

Ý nói: con người mãi mãi chịu đau khổ trong vòng luân hồi nơi cõi trần.

(24):Trầm kha: kéo dài và nghiêm trọng,

 

Kiêu, ty: cũng một mạn này

Thói hư khinh mạn… kiêu đầy, ty vơi

Kiêu, ty nghĩ cũng hư đời

Tạo nên lực tại xoay người đảo điên

Đứng không vững ngồi không yên

Cũng vì cái chữ mạn phiền não kia

Sau chữ mạn là chữ nghi

Tại vì… bởi Tại… cũng vì nghi nan.

Trong bao điêu đứng thế gian

Cái điêu đứng của nghi nan đứng đầu. (210)

 

Ai mà muốn được sống lâu

Ai mà muốn khỏi đau đầu nhức tim

Ai mà muốn được bình yên

Thì nên tìm cách vượt trên nghi tình

Nếu như có một cực hình

Làm tình làm tội chúng sinh cực kỳ.

Cực hình ấy chính là Nghi

Nó làm khô héo Hoa Quì hướng dương

Nó làm vỡ nát kim cương

Nó làm băng hoại cương thường (25)tâm linh  (220)

 

 

 

 

 

(25):Cương thường:Cang: cái giềng của tấm lưới, ý nói Tam cang (hay Tam cương). Thường: hằng có, ý nói Ngũ thường.

Cang thường là nói tắt của Tam cang và Ngũ thường.

Tam cang và Ngũ thường là phần căn bản trong Nhơn đạo của người đàn ông.

Tam cang hay Tam cương dịch là Ba giềng hay Ba mối. Tam cang gồm: Quân thần cang, Phụ tử cang, Phu thê cang.

Ngũ thường được dịch là Năm hằng. Ngũ thường gồm: Nhơn, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Nó làm cái đẹp hết xinh

Nó làm cái bạch cái trinh ố bùn

Nói sao hết nỗi đoạn trường

Của người lỡ “bán linh hồn” cho…Nghi!

Linh hồn lỡ bán một khi

Thì dù có nó xác chi không hồn

Hỏi ai trong cõi Càn Khôn

Chưa từng nếm nỗi đoạn trường của Nghi.

Nỗi chua nỗi chát nỗi gì

Nỗi cay nỗi đắng nỗi chi trên trần    (230)

 

Mà đem sánh với nghi tâm

Thì xem ra cũng khó phân ít nhiều.

Cái nghi tác quái tác yêu

Giật dây con Vụ thiếu điều xác xơ

“Nên ra tay kiếm tay cờ”

Chẳng nên thì chớ chẳng nhờ tay ai

Namnhi hán tử anh tài

Ấy do sức tự Tại oai dũng thần

Còn như những kẻ phàm nhân

Suốt đời bị Tại nó vần nó xoay.  (240)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khác gì con Vụ quay quay

Gẫm ra mỗi cái múa may vai hề

Vương mà chi tướng mà chi

Những người bị cái “Tại Vì” nó “thương”

Trăm năm trong cõi mộng thường

Gẫm ra một Tại: cội nguồn trầm luân

Khiến ai dan díu cõi trần

Đi, về ….một xác phàm nhân vật vờ

Ai rằng cuộc sống là thơ

Ai rằng cuộc sống là tờ tâm kinh (250)

 

Nếu không tự chủ lấy mình

Thì muôn năm cũng lục bình trôi sông

Cũng vì chữ Tại đúng không?

Tại vì bởi tại cuồng ngông não phiền.

Đứng không vững, ngồi không yên

Cũng vì cái chữ Mạn phiền não kia.

Ngoài chữ Mạn là chữ Nghi

Tạivì: bởi vì…cũng vì Nghi nan

Đứng đầu Ngũ Độc là tham

So ra, Nghi chỉ đứng hàng thứ năm  (260)

 

(phần 3)

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhưng… tuy thứ bậc không bằng

Mà xem ra cũng “lục lăng(26) kém gì!

Trong năm cái độc, độc Nghi

Khác chi ngọn lửa A Tỳ Ngục (27) trung

Nó thiêu đốt, nó nấu nung

Nó làm cháy rụi cả trong lẫn ngoài

Cháy vóc hạc, cháy hình mai

Cháy mình lại cháy cả ai bên mình

Đôi khi cháy cả quên mình

Độc Nghi hóa lửa đốt sinh mệnh đời (270)

 

Độc Nghi hóa lửa đốt người

Độc Nghi hóa lửa đốt trời đất luôn

Độc Nghi đầu mối ghen tuông

Độc Nghi đầu mối thua buồn khổ đau

Vì sao có trước không sau

Có sau không trước có đầu không đuôi

Vì chân Ngũ Độc hại đời

Hại câu nhân nghĩa hại đời thủy chung

Độc Nghi tác hại vô cùng

Gây nên Trang Huấn ngang cung cây đàn (280)

 

 

 

 

 

 

(26):Lục lăng(Lục tặc): là sáu tên trộm cướp, luôn luôn rình mò cướp mất công đức của   người tu hành.

(27):A Tỳ Ngục: A-Tỳ địa ngục, là địa ngục Vô gián, nơi ấy tội nhân bị hành hình liên tục, không lúc nào ngừng. đây là cảnh địa ngục thấp nhứt, đau khổ nhứt trong Bát đại địa ngục, để trừng trị những tội hồn mà trong kiếp sanh nơi cõi trần đã phạm vào các đại tội như: Ngũ nghịch, hủy báng chánh pháp.

Đàn ai tích tịch tình tang

Đôi dây lỗi nhịp tào khang chi tình(28)

Lời dù vàng đá đinh ninh

Mà lòng đã chớm Nghi tình phu thê

Chồng “Mìn(29)sao lạ quá tề

Sáng nay dậy sớm trao chia râu mày

Hay là “hắn” dở bày bay

Với cô hàng xóm mặt mày như mơ

“Dò sông dò biển dễ dò

Nào ai lấy thước mà đo lòng người” (290)

 

Tri nhân tri diện dễ rồi

Lòng sâu dạ thẳm ai người tri tâm

Chồng “Mìn” mặt mũi thấy hâm(30)

Lại còn liếc ngó mấy lần trong gương

Lòng cô vợ nọ ghen hờn

Nỗi Nghi nó lớn còn hơn bầu trời

Nó che lấp cả cuộc đời

Nó che lấp cả nụ cười tương giao(31)

Độc Nghi nó độc làm sao

Nó đổ mực vào trang giấy trắng tinh (300)

 

 

 

 

 

 

(28):Tào khang chi tình: Tình nghĩa vợ chồng.

(29):Mìn: chính là mình.

(30):Hâm: có tính khí không được bình thường, biểu hiện bằng những lối nói năng, những hành vi ít nhiều gàn, ngớ ngẩn.

(31):Tương giao: giao thiệp, kết thân với nhau.

Làm cho pho sử ba sinh(32)

Thắt đau lắm mực đen sình dở dang

Nhưng đâu mỗi chuyện riêng nàng

Chuyện nghi là chuyện thế gian hai người

Nhứt là đôi lứa, lứa đôi

Nghi Tâmlen lõi vào chơi- chơi vào

Nàng mà Nghi Hoặc làm sao

Thì chàng cũng Hoặc Nghi bao nhiêu lần

Rằng: “ Cô Mụ” quá lần khân(33)

Namnữ thụ thụ bất thân kia mà!  (310)

 

Cớ sao chẳng giữ nếp nhà

Cứ thấy “Chả” “ Mụ” bại A thần phù(34)

Ngày nào tình hẹn thiên thu

Mới qua đôi nhịp hát ru chung bè

Nghi đã ngáy tè te

Dục giục quân tử máu me ghen hờn

Một khi Nghi đã vào tuồng

Thì Bị, thì Tại, nó dồn dập ta

Khiến ta trôi dạt Nại Hà (35)

Ba chìm bảy nổi giữa ba đào lòng  (320)

 

 

 

 

 

 

(32):Ba sinh: là ba kiếp sống. Trong văn học, Ba sinh là để chỉ mối duyên vợ chồng ràng buộc hai người từ kiếp trước.

(33):Lần khân: kéo dài thời gian để dây dưa, trì hoãn.

(34)A thần phù: bất thình lình, đột nhiên.

(35):Nại Hà: cầu Nại Hà.Tương truyền, nơi cõi Âm phủ có một cây cầu rất mỏng manh, bắc ngang một con sông lớn, ván lót gập ghình, trơn trợt, rất khó lên cầu để đi qua sông.

Cuộc đời nhân loại long đong

Cũng vì năm thứ độc lòng vòng kia

Độc Tham trăm nỗi ê chề

Độc Sân trăm nỗi tái tê rụi tàn

Độc Si trăm nỗi bẻ bàng

Độc Mạn trăm nỗi dở dang phận người

Độc Nghi trăm nỗi rối bời

Cho đời nhân loại hóa đời rong rêu

Vì chân Bị, Tại rất nhiều

Nó làm hai chữ Tiêu Diêu, (36)Tiêu Đời (330)

 

Làm người muốn xứng phận người

Phải vượt Bị, Tại rong chơi chín tầng

Trở về Tự Tại viên chân(37)

Viễn ly Ngũ Độc Tham, Sân, Si và…

Một khi Ngũ Độc tiêu ma

Thì Bị, thì Tại cũng là trò chơi

Bị, Tạinhiều lắm ai ơi!

BịTại nên đời chúng sanh

Một khi Bị, Tại ngưng hành

Thì chúng sanh sẽ hóa thành Như Lai (340)

 

 

 

 

 

 

(36):Tiêu diêu: Tiêu: Lượn trên cao. Diêu: Dao: xa.

Tiêu diêu hay Tiêu dao là đi chơi đây đó một cách thảnh thơi nhàn hạ.

Thung dung đi chơi đây đó, không bị ràng buộc vào một việc gì.

 

(37):Viên chân: viên là tròn đầy, chân là Thật, khơng giả dối.

Để mà tự tại hôm mai

Ung dung khuya sớm khoan thai trưa chiều

Một đời Tự Tại tiêu diêu

Viễn ly điên đảo, triệt tiêu mê lầm

Ngoài năm thứ độc trong Tâm

Còn bao Bị, Tại trong tầm nhân sanh

Tâm vô thường: (38) Bị, Tại hành

Đã vô thường: dễ chi mình tự do

Sáng vừa thương:  lấy chi dò

Chiều đã ghét lấy chi đo đạt chừ!  (350)

 

Thương thương ghét ghét sật sừ

Bị Bị Tại Tạilắc lư lật lường

Đã không chủ được lập trường

Lấy chi Tự Tại để thương, để chừ

Những lời nguyện ước xuân thu

Lấy chi giữ được thiên thu bây chừ

Ngâm ca thiên hạ ngàn thu

Mấy ai khỏi Bị, Tại như Phật Đà

Mắt kia không đốm không hoa

Tâm kia không thiết không tha mộng tình  (360)

 

(38):Vô thường:Vô: Không, trống không, không có gì. Thường: luôn luôn như vậy.

Vô thường là không luôn luôn như vậy, tức là có thay đổi, biến hóa không chừng.

Các vật ở thế gian, trước không nay có, có rồi lại không, nên thảy đều Vô thường. Tất cả pháp hữu vi đều có sanh diệt, lưu chuyển, không phút nào yên, nên gọi là Vô thường.

 

 

(phần 4)

 

 

 

 

 

 

Mũi, lưỡi vượt ngoài vị, hương

Mắt mà vượt sắc, tai mà vượt thanh

Duyên trần thập nhị loanh quanh

Vô minh thành thức xưng danh sắc này

Để vào lục nhập thày lay

Cho Ái, Thủ, Hữu, đọa đày tấm thân

Một vòng sinh tử trầm luân

Đa đoan (39)lão bệnh thì thầm vô minh

Tâmvô thường: giống hữu tình

Pháp vô ngã: kiếp chúng sinh hư phù (370)

 

Như ráng như móc phù du

Như tia chớp giật, như mù sương bay

Chẳng qua giả hợp thân này

Có chi tự ngã xưa nay miên trường (40)

Đã không tự ngã thiên lương

Lấy chi tự tại để thường tiêu diêu

Để tròn hai chữ tình yêu

Thì thôi Bị, Tại là điều thế gian

Trong Tứ Niệm Xứ (41)viên toàn

Có thân bất tịnh chẳng an chẳng lành  (380)

 

 

 

 

 

 

(39):Đa đoan: lắm chuyện lôi thôi, rắc rối, khó lường.

(40): Miên trường: lâu dài, lâu.

(41):Tứ niệm xứ:Phương pháp tu tập thiền Định, đặt Căn bản nơi lực của Tuệ nên gọi là niệm xứ, niệm trụ. 4 niệm xứ ấy là :

* Tâm vô thường, * Pháp vô ngã: * Thân bất tịnh : * Thọ thị khổ.

 

Cứ luôn bị Bị, Tại hành

Tạimưa Tại nắng Tại anh Tại nàng

Tạibệnh tật- chẳng an khang

Tại dơ bẩn chẳng cao sang ngọc ngà

Vì thân là thế nên ta

Mãi bị Bị, Tại phiền hà tấm thân

Nếu thân trong giá trắng ngần

Vượt qua nhơ bợn như thân Phật Đà

Thì trăm Bị, Tại phiền hà

Còn đâu chỗ để lê la trược phiền  (390)

 

Trong Tứ Niệm Xứ sâu hiền

Còn thọ thị khổ nó truyền pháp âm

Rằng bao thứ thọ trên trần

Thọ danh giá- thọ kim ngân- thọ tình

Thọ mai - thọ trúc xinh xinh

Thọ phúc lộc thọ khương ninh bộn bàng

Bao nhiêu thọ bấy nhiêu mang

Có bao nhiêu, khổ lại càng bấy nhiêu

Có nhiều, Bị, Tại càng nhiều

Càng nhiều Bị, Tại càng chiêu xích xiềng  (400)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đi không vững đứng không yên

Như con Lật Đật xuống lên tự người

Như con rối nọ rối bời

Chẳng qua Bị, Tại tại đời giật dây

Ngoài “ Ngũ Độc” nó thày lay

Ngoài, “ Vô, Bất, Thị” nó đọa đày ta *

Còn bao nông nổi phiền hà

Gây bao Bị, Tại khiến ta quay cuồng

Hỡi ơi! Tam chướng (42)thảm thương

Vì mi thiên hạ đoạn trường lắm thay!  (410)

 

Một là phiền não chướng đầy

Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi này đó thôi!

Hai là nghiệp chướng đầy vơi

Tự bao đời tự bao đời vô minh

Cái thương mê muội cái lòng

Tiêu ma trí tuệ tiêu vong tinh thần

Đưa người tới chốn vong thân

Tự dưng đánh mất cái Chân Tâm mình

Chỉ còn mường tượng bóng hình

Của ai ai đó, cho mình mình đây   (420)

 

 

 

 

 

 

(42):Tam chướng:Ba điều ấy là Tham, Sân, và Si. Tam Chướng đôi khi còn được gọi là ba bất thiện căn. Chính ba điều chướng ngại này là nguyên nhân của tất cả mọi khổ đau và khiến cho chúng sanh chìm đắm trong vòng luân hồi sanh tử. Kết quả gây ra bởi Tam Chướng gọi là Phiền não. Chỉ có trí tuệ thấu triệt được chân tướng của vạn hữu mới có thể tiêu diệt được tam chướng và khử trừ được phiền não.

 

Thương ơi mặt mũi xưa nay

Tự dưng do cái thương này mà đau

Thương và đau đi với nhau

Như dây trầu với thân cau đi cùng

Một duyên hai nghiệp não nùng

Có duyên ắt có nghiệp chung điệu vần

Duyên là duyên nợ theo nhân

Nghiệp là nghiệp chướng theo thân Tâm này

Nợ duyên nghiệp chướng sâu dày

Cũng vì một chữ si này mà ra    (430)

 

Tham Sân Siấy tam ma

Cũng là tam độc, cũng là tam tai

Tạo nên “Bị, Tại”dong dài

TạiVì Bởi Tại… cho ai não phiền

Để cho mình gặp lại mình

Một lời vàng đá ba sinh vuông tròn

Nghiệp kia gánh nặng mỏi mòn

Nghiệp thân, khẩu, ý biển non trập trùng

Chia thành bốn loại lao lung

Một, Cực Trọng Nghiệp (43)vô cùng nặng sâu (440)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(43):Cực Trọng Nghiệp: nghiệp chướng nặng nề nhiều đđời nhiều kiếp.

Nghiệp này quyết định đời nhau

Đưa người chỉ lối kiếp sau luân hồi

Hai, Cận Tử Nghiệp (44) ấy thời

Một người sắp sửa xa rời cõi dương

Thì trong giây phút lên đường

Cái trạng thái Tâm Thức đương sự này

Sẽ mang tính quyết định thay

Cho trú sở của người này kiếp sau

Cho nên năng lực nguyện cầu

Qua những sám nguyện từ câu kinh vàng (450)

(phần 5)

 

Kinh cầu siêu, kinh cầu an

Quả là vô lượng… giữa đàn tràng kia!

Ba, Tập Quán Nghiệp(45) những gì

Một người quen thói hành vi trong đời

Sẽ thành nghiệp lực để rồi

Dẫn đường dẫn lối cho người… kiếp sau

Bốn, Tích Lũy Nghiệp (46)– dồi dào

Những thiện những ác chen nhau trập trùng

Hóa thành nghiệp lực lao lung

Cho ta, Bị,Tại nghìn trùng khổ đau  (460)

 

 

 

 

 

(44): Cận Tử Nghiệplà Nghiệp, là hành động hoặc tư tưởng ngay trước khi chết, là tất cả những hoạt động cơ thể, tâm lí của người sắp lâm chung. Cận tử nghiệp quan trọng vì theo Phật giáo, nó trực tiếp quyết định điều kiện, môi trường sinh sống trong cuộc đời kế tiếp của người chết.

(45):Tập Quán Nghiệp: nghiệp do thói quen hư, xấu, tốt, đẹp nhiều đời nhiều kiếp mà thành.

(46):Tích Lũy Nghiệp: là nghiệp dồn góp dần những chủng tử tốt xấu cho càng ngày càng nhiều lên. Dẫn chúng sanh triền miên đắm chìm trong luân hồi sanh tử.

 

Bốn nghiệp nọ bổ sung nhau

Đưa đường chỉ lối mai sau phận người

Trong bao lực Tại trên đời

Cái lòng Ngã Chấp (47)nó thời vô song

Nếu đời có chữ long đong

Nếu đời có chữ lòng vòng quẩn quanh

Nếu đời có chữ tử sanh

Có ba gian lửa nó, dành cho nhau

Thì nguyên thủy của xưa, sau

Cũng do mối Ngã Chấp sâu nặng này (470)

 

Nghĩ thương cái thức thày lay

Nó nuôi Ngã Chấp tối ngày sáng đêm

Cho Ngã ngày một lớn lên

Càng lớn càng Bị, Tại thêm vô ngần

Cái lòng Ngã Chấp bất nhân

Cứ ngỡ Ngũ Uẩn (48)là Chân thể mình

Đâu hay Sắc, Thọ, Tưởng, Hành

Hợp thành cái thức đành hanh chỉ là

Cái Vọng Tâm của người ta

Còn như cái đích, thực là Chân Tâm (480)

 

 

 

 

 

 

(47):Ngã chấp:Ngã: Ta, tiếng tự xưng. Chấp: cầm giữ, cố chấp.

Ngã chấp là cố chấp cái ta của mình, cố chấp vào cái thân thể của mình.

Ngã chấp là nguồn gốc của phiền não. Người giác ngộ, không chấp vào cái ta nữa thì được an vui.

(48):Ngũ uẩn: là 5 món tích tụ hòa hiệp làm thành thân tâm của con người. Chúng che khuất chơn lý khiến chúng sanh luân hồi, thọ khổ.

Ngũ uẩn gồm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

 

Vốn đứng ngoài cái Ngã nhân

Cái căn nọ với cái trần duyên kia

Cái Chân Tâm chẳng đi về

Chẳng thường đoạn, cũng chẳng hề tử sanh

Chẳng hề Bị, Tại loanh quanh

Vốn như như một đức thành hiếu sinh

Thương yêu pháp giới hữu tình

Một nguyền phổ độ (49)sinh linh vạn loài

Cái Chân Tâm ấy Như Lai

Chở bao la một bản hoài Từ Bi (490)

 

Trở về cái Ngã Chấp kia

Vì ngộ nhận giả, gã kia là mình

Nên tự sinh một mối tình

Gọi là Ngã Ái, (50)thật rình thật rang.

Thật loay hoay, thật buộc ràng

Thật đỏng đảnh, thật nghêng ngang đủ điều

Cũng vì cái Ngã tự yêu

Sinh ra đủ thức Ty, Kiêu ỡm ờ (51)

Như con tằm nọ nhả tơ

Tự mình trói buộc mình vô kén mình (500)

 

 

 

 

 

 

(49): Phổ độ:Phổ:Rộng lớn, bày ra khắp cả, đều cả. Độ: cứu giúp.

Phổ độ là cứu giúp chúng sanh.

(50): Ngã ái: yêu cái mình, cái ta.

(51): Ỡm ờ : Ra vẻ ngơ ngẩn như không biết gì cả. Nửa đùa nửa thật, có ý trêu cợt.

Bên cạnh Ngã Ái vô minh

Là lòng Ngã Mạn (52)coi mình thật to

Ngỡ mình là cái vốn no

Trung tâm vũ trụ ai so cho bằng

Chính vì Ngã Mạn lăng nhăng

Bị, mà Tại hầm bà lằng… ta

Cho ta trôi dạt ái hà

Mười hai bến nước biết ra lối nào!

Ngoài cái Ngã Mạn tào lao

Còn bao cái Ngã, cái nào Ngã hơn (510)

 

Chỉ hay mỗi Ngã luôn tuồng

Điều mang những Bị, Tại- nguồn khổ đau

Cho người- con Vụ thiên thâu

Cứ quay theo lực “Ai Đâu” vận hành

Chưa hề theo lực chính mình

Để cùng Tự Tại long lanh nụ cười

Muốn thoát khỏi “Bể Luân Hồi”

Muốn thoát khỏi cái “Ngã Tôi” lèn èn

Cái Ngã Ngũ Uẩn hư hèn

Chúng ta cần phải, một phen, tách rời (520)

 

 

 

 

 

 

 

(52):Ngã mạn:Ngã: Ta, tiếng tự xưng. Mạn: khinh lờn.

Ngã mạn là tự cho mình tài giỏi cao hơn người mà khinh lờn người khác.

Người có tánh Ngã mạn thì tự đắc, kiêu ngạo, khoe khoang và chủ quan, nên thường cô đơn và thất bại.

Cái xưa rày tưởng là “Tôi”

Để cho cái “Bóng” nó rơi khỏi “Hình”

Để cho mình trở lại mình

Cái Ngã Ba La Mật(53) xinh như rằm

Cái Ngã của chính pháp thân

Gồm “ Thường- Lạc- Ngã- Tịnh” chân Phật Đà

Cái Ngã Tánh vốn đang là

Cũng là Phật Tánh nguy nga chân thường

Lạ lùng! Ba mối tai ương

Cũng do mối Ngã Chấp thường tạo sinh (530)

 

Nhưng một khi dẹp Ngã tình

Lại, thay vào, một Ngã xinh như rằm

Ấy là cái Ngã tròn trăng

Của Như Lai tạng thường hằng như thơ

Ngã này rất đỗi tinh mơ

Chẳng còn vương chút dây tơ dây tằm

Trói đời trong cái trói trăn

Của Bị với Tại, của “ trăng” với “đèn”

Dài với ngắn, trắng với đen

Của thiện với ác, của sen với bùn (540)

 

 

 

 

 

 

 

 

(53):Ba La Mật:  Ba-la-mật-đa là cách phiên âm thuật ngữ tiếng Phạn, cũng được viết tắt là Ba-la-mật. Ba-la-mật-đa được dịch nghĩa là Đáo bỉ ngạn, Độ vô cực, Độ, Sự cứu cánh.

Một cái Ngã rất chân thường

Một cái Ngã rất càn khôn tuyệt cùng

Cái Ngã vô thủy vô chung

Cái Ngã Đại Lực- Đại Hùng- Đại Bi

Một cái Ngã rất Hài Nhi

Không tên không tuổi không đi không về

Không đắn đo, không hẹn thề

Rất viễn ly- rất vô vi: Niết Bàn

Một cái Ngã rất khinh an

Rất vô ngã- bởi chính đang là mình (550)

 

Toàn bộ lợi nhuận của công ty cổ phần Đại Nam không chia cho cổ đông. Lợi nhuận sau khi tái đầu tư, công ty sẽ dành 100% lợi nhuận còn lại cho quỹ từ thiện Hằng Hữu hoạt động vì cộng đồng, đặc biệt là chương trình mổ tim dành cho trẻ em