Tại - Phần 2

Tại - Phần 2

 

Tại - Phần 2

 

Một cái Ngã rất vô tình

Lại vô duyên nữa như kinh nhất thừa

Một cái Ngã rất nên thơ

Vì chân Tự Tại là bờ bến kia

Bấy giờ trong cõi vô vi

Cõi không còn Bị- Tại- Vì… linh tinh

Sẽ tròn một đóa sen xinh

Như Liên Hoa Diệu Pháp Kinh bạch lòng

Nơi Chàng Cùng Tử long đong

Sẽ tao ngộ chính mình trong cội nguồn (560)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hóa ra mình- kẻ đầu đường

Kẻ cuối chợ: kẻ như ươn như hèn

Kẻ lún mình giữa bùn đen

Hóa ra mình kẻ bon chen rạc rài

Lại là trưởng tử Như Lai

Thong dong Tự Tại chẳng ai sánh tày

Nhưng sao cớ sự như vầy

Chẳng qua chữ Tại mình đây quên… mình

Vong thân tha hóa… tội tình

Với trăm Bị Tại, linh tinh buộc ràng (570)

 

Một khi vượt khỏi thế gian

Với trăm Bị,Tại làng chàng nọ kia

Để an trụ cõi Bồ Đề

Chân xếp Tự Tại tay xòe tự do

Không còn nhận chẳng còn cho

Không còn bận chẳng còn lo- tuyệt trần!

Bấy giờ trong cõi pháp thân

Trong cõi đương xứ tức chân- nghĩa là

Cõi không người, cõi không ta

Không đi không lại không ra không vào (580)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cũng không Ngũ Uẩn lao xao

Cũng không Ngũ Độc mãi thao túng đời

Không Lục Tặc trớ trêu người

Không Bát Khổ luống ngậm cười thế gian

Cõi xinh trên đại Niết Bàn

Tứ vô lượng khéo đăng quang nụ cười

Từ, Bi, Hỷ, Xả (54) toát vời

Tứ đức Ba La Mật ngời trăng sao

Thường, Lạc, Ngã, Tịnh tiêu dao

Vượt qua cửa vũ để vào Long Hoa (590)

 

Vì sao gọi cõi ấy là

Cõi không người cõi không ta? Ấy vì

Ta, người vốn chẳng phân chia

Vốn là một, chẳng có gì là hai

Cũng như giọt nước sông dài

Vốn là một chẳng Đông Đoài với sông

Con sông vốn nó đại đồng

Có chia Nam Bắc Tây Đông nỗi gì

Làm chi trong khối sông kia

Lại có giọt nước phân ly một mình (600)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(54): Từ, Bi, Hỷ, Xả: là Tứ vô lượng tâm. Tứ vô lượng tâm nầy rộng lớn bao la, không bờ bến, không ranh giới, bao trùm lên tất cả chúng sanh, không loại trừ một chúng sanh nhỏ bé nào.

Cũng vì Tại cái linh tinh

Của Lục Dục, của Thất Tình mà nên

Làm cho giọt nước thành riêng

Chỉ nhớ cái bóng mà quên cái hình

Lục Dụccộng với Thất Tình

Nó làm nên cái Tại Mình, Bị Ta

Lục Dục, sáu dục ấy mà!

Một là Sắc Dục, ấy là lòng tham

Cái bóng cái sắc của “Nàng

Cái bóng cái sắc của chàng đẹp xinh (610)

 

Khiến ta dan díu với tình

Con tằm dệt kén trói mình vào trong

Cho mình Bị Tại long đong

Chẳng bao giờ đặng thong dong cõi ngoài

Hình Mạo Dụcđứng thứ hai

Lòng tham mắt phượng mày ngài đối phương

Cũng vì hai chữ “Mười Thương”

Bị, Tại nó hốt hồn người ta

Uy Nghi Tư Thái Dục

Cái lòng ham dáng văn hoa của người (620)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khi đi đứng, lúc nằm ngồi

Toát ra một vẻ tuyệt vời uy nghi

Khiến mình những muốn “ ăn chia”

Hòa đồng muôn sự một khi cho đành

Rồi đến Ngữ Ngôn Âm Thanh

Cái dục do tiếng yến oanh ngọt ngào

Đêm ngày mường tượng chiêm bao

Vì chưng tiếng ngọc ai trao lời vàng

Trương Chi ơi! Một tiếng đàn

Vì mi để bụng can tràng Mỵ Nương (630)

 

Tế Hoạt Dụcthêm đoạn trường

Thịt da ai khéo mịn màng thế ni

Trắng ngần như thể trà my

Khiến ai như dại như si nỗi niềm

Vì không được cận kề bên

Ba thu khắc khoải tiếng Quyên gọi sầu

Nhân Tướng Dụcnão lòng nhau

Mặc ai xinh đẹp cho đau lòng mình

Ấy là Lục Dục tâm linh

Là kinh của Phật dạy tình thế gian (640)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dạy rằng: Bị, Tại đa đoan

Cũng vì Lục Dục gieo oan nghiệt đời

Khổng Giáo cũng có đôi lời

Luận về Lục Dục hại người như sau

Một là Danh vị công hầu

Cái danh nó cột người vào cùm gông

Hai là cái Lợi long đong

Trường danh, chợ lợi cái vòng oan khiên

Ba là Sắc- mối đảo điên

Một là nghiêng nước, hai nghiêng thành mà!  (650)

(phần 7)

Mỹ nhân quan quả thực là

Anh hùng há dễ vượt qua ải này

Bốn là Vị riêng tay

Gian tham vạn kẻ, thẳng ngay mấy người

Năm là Hư Vọng dối đời

Dối mình là một, dối người là hai

Sáu là Tật Đố ghen hoài

Ghen hiền ghét ngó, ghen tài ghét năng

Sau là dục nó lăng xăng

Làm cho bị tại hầm bà lằng nhau (660)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bên anh Lục Dục xà ngầu

Còn Thất Tình nọ cũng đâu kém gì

Hỷ, Nộ, Ai, Cụ li bì

Thêm Ái, Ố, Dục… Tại vì tùm lum

Vì không Hỷ, Nộ luông tuồng

Ắt Bị với Tại khôn lường múa may

Như con vụ nó không dây

Lấy đâu lực đẩy nó quay mòng mòng

Cũng vì Ái, Ố lòng vòng

Nên Bị, nên Tại mới hòng lung lăng (670)

 

Người đời tham đó bỏ đăng

Tham bỏ Lựu tham trăng bỏ đèn

Lòng tham dục tánh bon chen

Một phen sống vội, một phen yêu cuồng

Mấy đời bánh đúc có xương

Cái lòng “Ố” chẳng dễ thương tí nào

Ố người người ố chứ sao

Muốn đừng bị ố phải vào tình thương

Một khi mình biết yêu thương

Thì bao nhiêu ố sẽ chìm xuống thôi (680)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cái đáng sợ nhất trên đời

Ấy là chữ “Cụ” ôi thôi kinh hoàng

Cụ là cái sợ thế gian

Có ai chẳng sợ khi đang là mình

Có ai từ lúc “hình thành”

Từ trong bụng mẹ chưa sanh ra đời

Rồi cho tới lúc nằm nôi

Cho tận lúc sắp về chơi suối vàng

Mà không Bị “cụ kinh hoàng”

Nó làm nát đá tan vàng đời sen (690)

 

Sợ là cái “tội tổ tiên”

Sinh ra đã sợ- di truyền vậy thay!

Sợ làm bủn rủn chân tay

Tối cả mặt, tắt cả mày người ta

Sợ thần, sợ quỷ, sợ ma

Sợ đàn ông, sợ đàn bà, sợ nhau

Sợ từ ngọn gió tàu cau

Sợ qua hạt thóc lá trầu nằm nghiêng

Sợ tang hải, sợ thương điền

Sợ già sợ bệnh, sợ điên, sợ khùng (700)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sợ làm Bị, Tại lung tung

Càng Bị càng Tại càng khùng càng điên

Cái vòng Thập Nhị Nhân Duyên

Nó gây Bị, Tại triền miên không ngừng

Suốt từ vô thủy vô chung

Cái vô minh nó hành hung con người

Vô minh không tiếng không lời

Không hình không bóng không trời không trăng

Thế nhưng trong cõi mù tâm

Lại mang huyền lực bản năng phi thường (710)

 

Đẩy ta vào cảnh đoạn trường

Thành hình cơ thể thịt xương con người

Từ vô minh tuyệt mù khơi

Mà hành thức giận vui đời chúng sanh

Qua danh sắc được hình thành

Để cho Lục Nhập* tập tành nhân duyên

Cho Ái, Thủ, Hữu triền miên

Vô văn Bị, Tại dựng nên hý trường

Với kiếp người như hạt sương

Như bèo như bọt vô thường phù du (720)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*Lục Nhập : còn gọi là lục xứ, chỉ cho sáu căn:Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý hoặc sáu trần Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Sáu căn là lục nhập bên ngoài, sáu trần là lục nhập bên trong. Nhập nghĩa là vào; Xứ nghĩa là chỗ nương. Sáu căn, sáu trần duyên nhau mà sinh ra sáu thức, nên gọi là nhập; Sáu căn, sáu trần là chỗ nương của sáu thức nên gọi là xứ.

 

 

Vậy mà chồng chất xuân thu

Thành sầu biển lệ âm u vạn đời

Cũng Bị, Bị Tại trêu ngươi

Khiến quay con vụ kiếp người trầm luân

Mười hai duyên nọ làm nhân

Một lần Bị Tại, một lần duyên sinh

Khởi đầu từ cái vô minh

Khi mình chưa gặp được mình đấy thôi

Khi ta chưa tỏ mặt người

Tâm chưa truyền ấn tâm- ôi não nùng (730)

 

Trong vô minh rất mịt mùng

Ẩn hành kia thức nọ trong tâm này

Cái hành cái thức thày lay

Bị, nó Tại suốt ngày suốt đêm

Hỡi ơi! Ngũ Uẩn* triền miên

Mỗi Bị, mỗi Tại gây phiền phức tâm

Khiến cho danh sắc bổng trầm

Kết tinh nên cái nhân thân đọa đày

Với Lục Nhập hiện tiền này

Nhẫn Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân gây não phiền (740)

 

 

 

 

 

 

*Ngũ uẩn, cũng gọi là Ngũ ấm tượng trưng cho năm yếu tố tạo thành con người, toàn bộ thân tâm. Ngoài ngũ uẩn đó ra không có gì gọi là cái "ta".

Ngũ uẩn là:

Sắc, chỉ thân và sáu giác quan (hay còn gọi là lục căn, bao gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý), do Tứ đại chủng tạo thành, đó là bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa. Sắc tạo nên các giác quan và đối tượng của chúng.

Thọ, tức là toàn bộ các cảm giác, không phân biệt chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính.

Tưởng, là nhận biết các cảm giác như âm thanh, màu sắc, mùi vị..., kể cả nhận biết ý thức đang hiện diện.

Hành, là những hoạt động tâm lí sau khi có tưởng, ví dụ chú ý, đánh giá, vui thích, ghét bỏ, quyết tâm, tỉnh giác...

Thức, bao gồm sáu dạng ý thức liên hệ tới sáu giác quan: Ý thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

 

Kết thành cái Y triền miên

Kết thành Bị Tại liên miên không dừng

Cho Ái, Thủ, Hữu tưng bừng

Một yêu thì phải giữ chưng cho mình

Giữ thì phải có đinh ninh

Và thế là có Ba Sinh đoạn trường

Sinh già bệnh chết tai ương

Với Bát Khổ, Bát Nạn tương sanh hoài

Khổ kia vốn tự lòng người

Nạn kia vốn tự lòng người mà ra (750)

(phần 8)

 

Khổ Tập Diệt Đạo*ấy mà

Một Bị một Tại cho ta Bị hành

Vì sao ta lại Bị hành?

Vì ta chưa thể tự thành, thế thôi!

Vì sao chưa tự thành đời

Vì ta chưa rõ con người của ta

Cái con người thực ấy mà

Cái con người thực Phật Đà nói lên

Con người thực Phật đặt tên

Vượt qua Bị Tại vượt lên Niết Bàn (760)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*Bát khổ là: Sinh, lão, bịnh, tử khổ, Ái biệt ly khổ, Oán tăng hội khổ, Ngũ ấm xí thạnh khổ, Cầu bất đắc khổ. Tám cái khổ này làm hại con người trên thế gian.

 

*Khổ Tập Diệt Đạolà Tứ Diệu Đế, cũng gọi là Tứ Thánh Đế, hay vắn tắt là Tứ Đế, là bốn chơn lý mầu nhiệm để giải thoát con người khỏi vòng luân hồi nơi cõi trần

 

Nghĩa là cõi tự xênh xang

Tự do, Tự Tại muôn vàn tự tâm

Vì sao cát lỡ bụi lầm

Vì ta chưa rõ được chân tâm mình

Một khi qua bóng tỏ hình

Ắt chẳng còn Bị cái “tình” nó “tan”

Hữu tình là thói thế gian

Vô duyên là ánh hào quang đại từ

Một khi vào cõi như như

Thì tâm vô lượng đại từ vô duyên (770)

 

Rộng thương chẳng kể ngu hiền

Đại bi đồng thể một uyên nguyên này

Những gì, Bị Tại thày lay

Trong cõi tâm này đã sạch sành sanh

Bên Từ Bi sáng long lanh

Lại còn Hỷ Xả trong xanh nhẹ nhàng

Niềm an lạc xuất thế gian

Vượt ngoài điều kiện hoàn toàn tự nhiên

Niềm vui Thiền Duyệt vô biên

Từ giây một, cái hiện tiền trong veo (780)

 

 

 

 

 

 

 

 

*Bát nạn, là tám nạn, tám trường hợp không may có thể xảy ra trên con đường đạt giác ngộ của một tu sĩ. Bát nạn bao gồm:Địa ngục, Súc sinh, Ngạ quỷ ,

Trường thọ thiên, là cõi trời thuộc sắc giới với thọ mệnh cao. Thọ mệnh cao cũng là một chướng ngại vì nó làm mê hoặc hành giả, làm hành giả dễ quên những nỗi khổ của sinh lão bệnh tử trong Luân hồi;

Biên địa, là những vùng không nằm nơi trung tâm, không thuận tiện cho việc tu học chính pháp;

Căn khuyết, không có đủ giác quan hoặc các giác quan bị tật nguyền như mù, điếc…;

Tà kiến, những kiến giải sai lệch, bất thiện;

Như Lai bất xuất sinh, nghĩa là sinh sống trong thời gian không có Phật xuất hiện hoặc giáo pháp của Phật.

 

Xalà bỏ, chẳng mang theo

Một tâm vô lậu Tỳ Kheo Thích Già

Trong Tứ Vô Lượng ngọc ngà

Những Bị những Tại ắt là tiêu vong

Trên đường đi tới thong dong

Vượt qua Tứ Bệnh* mới xong Niết Bàn

Một là Tác Bệnh ràng ràng

Ấy là tác ý mình đang tu từ

Đã tác ý, tức hữu vi

Đã hữu vi tức vô vi bức thành (790)

 

Hai là Nhậm Bệnh rành rành

Cái bậy, nghĩ rành, gánh vác đảm đương

Để cầu tuệ giác kim cương

Ba là Chí Bệnh bàng môn- ngỡ lầm!

Hễ ngưng vọng tức là chân

Ai hay viên giác tự thân vô cầu

Bốn là Diệt Bệnh ngỡ đâu

Diệt trừ phiền não, mưu cầu tuệ tâm

Cái tâm, thân lẫn căn trần

Một phen diệt triệt ắt chân Niết Bàn (800)

 

 

 

 

 

 

 

 

*Tứ Bệnh: Một, bệnh TÁC, chữ TÁC có nghĩa là làm. Làm có vẻ tích cực nhưng việc làm không đúng chánh nhân giải thoát. 

Hai bệnh NHẬM. "Nhậm" có nghĩa là buông trôi không làm gì hết. Sống với dáng vẻ đờ đẫn, thẫn thờ, mặc cho thế cuộc…

Ba, bệnh CHỈ. "CHỈ" có nghĩa là chặn đứng là ngưng bặc, diệt hết ý niệm tư duy.

Người tu hành phải là ngừơi giàu tư duy và rất cần trí tuệ để tư duy nhận Bốn bệnh DIỆT. "DIỆT" có nghĩa là triệt tiêu, hủy diệt hết.

 Diệt trừ bốn tướng, xa lánh bốn bệnh, oán thân bình đẳng, rửa sạch thị phi Phật nói người như thế không lâu sẽ đến nhà Như Lai Viên Giác

Ắt tâm Phật tuệ kim cang

Ai hay viên giác chẳng can dự gì

Tâm mà vô bệnh một khi

Ắt Bị ắt Tại hết đi hết về

Niết Bàn là trở về quê

Thành Phật là lại trở về hành ta

Cái ta đang có chẳng qua

Là cái ta Bị, Tại ta chính mình

Cái ta có bóng không hình

Cái ta Ngũ Uẩn vô minh rạt rài (810)

 

Cái ta dở khóc dở cười

Cái ta đau đáu của đời người ta

Cái ta của Ngũ Ấm ma

Cái ta của thức mạt na lộng hành

Cái ta tự đánh mất mình

Cái ta vụn vặt linh tinh lọc lường

Cái ta vị sắc thanh hương

Đắm mê Ngũ Dục chán chường phàm thân

Cái ta như gánh nợ nần

Bị cái Tại xoay vần đảo điên (820)

 

 

 

 

 

 

 

 

*Mạt na thứccòn có nhiều tên gọi khác : thức thứ 7, Ỳ căn, Truyền Tống thức . Công năng củaMạt na thức là suy xét, so đo, chấp trước, phân biệt : phân biệt có "cái ta" , cái Tôi , nghĩa là bảo thủ cho "cái ngã, cái Tôi" của mình . Ngoài ra, thức này vừa có công năng truyền các điều mắt thấy, tai nghe, mũi ngữi v.v  vào A lại da thức , vừa tống các chủng tử ở trong A lai da thức khởi ra hiện hành.

 

*Ngũ dục : chỉ  Sắc, thanh, hương, vị, xúc ở thế gian. Nó hay làm mê hoặc tất cả phàm phu khiến phải say đắm.

Gọi là Thập Nhị Nhân Duyên

Để thoát Bị, Tại phải nên tu trì

Tu là sửa mà sửa chi ?

Ngay trước mắt phải sửa thì là thân

Cái thân đồng thể cái thân

Ấy nghĩa Trung Đạo thậm thâm vi huyền

Thân yên tâm mới lặng yên

Thân phiền tâm ắt chịu phiền não theo

Một tâm hồn đẹp cao siêu

Trong một thân thể sớm chiều kiện khang (830)

 

Ấy là lẽ ngọc lời vàng

Trung Đạo*đệ nhất nghĩa càng thắm xinh

Muốn tu muốn sửa thân mình

Phải giữ giới luật lời kinh dạy rằng:

Không tửu sắc, chẳng sát sanh

Một khi thiểu dục ắt thanh tâm hiền

Thanh tâm thiểu dục tương liên

Thân tâm tương hỗ ắt yên mọi bề

Năm điều giới cấm trên kia

Thoắt nghe như chẳng có gì cao siêu (840)

 

(phần 9)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*Trung đạo là từ được dùng chỉ chung các phương pháp giảng dạy của Phật Thích-ca Mâu-ni, là người tránh những cực đoan trong cách tu học—như buông thả theo dục lạc và sống khổ hạnh tuyệt đối.

Nhưng khi thực hiện ít nhiều

Mới hay cuộc sống có chiều đổi thay

Ai mà giữ được thân này

Bớt Sát, Dâm, Vọng, bớt say sưa đời

Ắt mình sẽ được thảnh thơi

Thân mà khỏe mạnh tâm thời an vui

Thân tâm đã khỏe vui rồi

Ắt trí tuệ sẽ sáng ngời lương tri

Giữ giới Sát, mở từ bi

Tâm từ đã mở, thân thì an khang (850)

 

Giữ giới: “Đạo” tâm nhẹ nhàng

Tâm nhẹ thân cũng nhẹ nhàng theo tâm

Diệu kì là giữ giới Dâm

Tinh hóa khí, khí hóa thần ai ơi!

Một khi tâm thiểu dục rồi

Thân mà tráng kiện rạng ngời trí nhân

Giữ lòng trong sạch như băng

Ăn ở ngay thẳng nói năng thật thà

Ấy là giới vọng đó mà

Giới năng khéo giúp đời ta an lành (860)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khỏe vui thân ấy đã đành

Thiện nhân tâm ấy để dành mai sau

Ngụ ngôn kể chuyện như sau:

Có gã nọ tội chướng sâu vô ngần

Bấy giờ xuất hiện vị thần

Phán rằng tội chết đáng dành phần ngươi

Nay ta cho chọn một thôi

Trong ba chọn một tội thời dung tha

Một là lấy lửa đốt nhà

Ba gian cháy rụi ta tha tội liền (870)

 

Hai là giết chết mẹ hiền

Ba là mua rượu uống liền một khi

Gã nọ nghĩ hai việc kia

Quả là trọng tội, tội gì ta mang!

Thôi thì có việc bình thường

Là việc uống rượu chẳng can tội gì

Một phen cạn nghĩ cạn suy

Gã bèn chọn rượu tức thì nốc say

Nào ngờ rượu nốc quá tay

Khiến tâm điên loạn đốt ngay nhà mình (880)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đốt xong cho tận tội tình

Lại cầm dao giết mẹ mình thương yêu

Ngụ ngôn nhắc nhở một điều

Rượu là mối hại bao nhiêu cuộc đời

Rượu làm điên loạn tâm người

Lại làm bạc nhược thân người đắm mê

Tắt một lời: những ai kia

Muốn vượt bể khổ sông mê đoạn trường

Để đừng Bị Tại cầm cương

Thong dong tiến bước lên đường Phật Tiên (890)

 

Phải gìn Ngũ Giới* cao nghiêm

Phát huy Tam Học mới nên đạo người

Một khi Ngữ Giới nghiêm rồi

Ắt tâm thanh tịnh, ắt người kiện khang

Chẳng còn Bị Tại đa đoan

Ắt thân tâm sẽ vào trang định thiền

Nghĩa là tĩnh lặng như nhiên

Chẳng còn Bị Tại đảo điên quấy rầy

Giới Định Tuệnẻo đường ngay

Giớikia sinh Định, Định rày Huệ khai (900)

 

 

 

 

 

 

 

*Ngũ giới:  là năm điều răn không được làm của hàng tu sĩ tại gia mà Phật tử xin phát nguyện thọ lãnh 5 giới này (Giới: là hàng rào ngăn cấm những việc xấu của thân, khẩu, ý). Người Phật tử thọ lãnh năm giới này trong buổi lễ quy y hoặc phát nguyện.

Không sát sanh

Không trộm cắp

Không tà dâm

Không nói dối

Không uống rượu

Huệ là cái trí Như Lai

Thấu suốt trong ngoài trên dưới xưa sau

Huelà cái đức nhiệm mầu

Khiến ta thực chứng thiên thâu là mình

Cái mênh mông của hữu tình

Cái bao la của vô sinh cũng là

Huelà cái thấy “không xa”

Để Thường Lạc Ngã Tịnh Như Lai

Trong niềm tuệ giác viên khai

Cái Bị cái Tại rạt rài trầm luân (910)

 

Chẳng còn chỗ đứng trung quân

Để thay con tạo xoay vần chúng sanh

Tam Học: cõi Phật an lòng

Rỡ ràng Tam Ấn long lanh Tam Thừa

Tam Ấnđạo lý ngàn xưa

Một là chư hạnh Xuân Thu vô thường

Hai là chư pháp mười phương

Thảy đều Vô Ngã chẳng tồn tại chi

Ba là Niết Bàn vô vi

Ba dấu ấn nọ khắc ghi trọn đời (920)

 

 

 

 

 

 

 

 

*Tam-Học -3 nền tảng tu học
1.- Giới học: Giới luật để ngăn ngừa và trừ diệt ba ác nghiệp: thân, khẩu, ý. Giới học có ba loại:
a) Nhiếp luật nghi giới: Các giới luật, uy nghi của Phật tử tại gia, các bậc Sa di. Thức soa ma na, Bồ tát.
b) Nhiếp thiện pháp giới: Các pháp lành như thập thiện v.v…
c) Nhiêu ích hữu tình giới: Làm việc cứu khổ cho vui đối với chúng sinh.
2.- Định học: Thiền định làm tâm ý vẳng lặng, trong sạch không xáo động.

3.- Tuệ học: Trí tuệ quán suốt chân-lý, dứt bỏ mê lầm. Tuệ học có 3 thứ: Văn, tư, tu.
Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ, Niết bàn giải thoát do đó chóng thành.
 

Tam Thừalà một ai ơi!

Chiếc bè nào chẳng đưa người qua sông

Vượt qua bể khổ mênh mông

Lượn sóng Tam Ái bềnh bồng nổi trôi

Cho ta Bị Tại luân hồi

Biết bao giờ trở lại đời như nhiên

Nay Tam Chủng Ái oan khiên

Một, Cảnh Giới Ái: Rất nên buộc ràng

Khiến ta vào mối luyến tham

Vợ con, nhà cửa, bạc vàng, công danh (930)

 

Hai, Tự Thể Ái: yêu mình

Tất tần tật những gì thành ra ta

Mặt mày, râu tóc, xương da

Tư duy tình cảm, tài hoa, tinh thần

Những gì kết cấu nhân thân

Lòng yêu tự thể: muôn phần đa mang

Ba, Nguyên Sanh Ái: buộc ràng

Ấy niềm khát vọng muôn vàn thiết tha

Của hồn Thi Sách* lìa xa

Vẫn mong được tái sanh mà hưởng dương (940)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*Thi Sách(?-39), là con trai của Lạc tướng huyện Chu Diên (tỉnh Sơn Tây ngày nay), là chồng của Trưng Trắc, con gái lạc tướng huyện Mê Linh.

Năm 39, ông chống lại chính sách cai trị của chính quyền đô hộ nhà Hán, bị thái thú Giao ChỉTô Định giết chết. Từ đó Trưng Trắc cùng em là Trung Nhị nổi dậy trả nợ nước, thù nhà.

(phần 10)

 

Đã đành nhẫn độ đau thương

Những Bị cùng Tại nhiễu nhương kiếp người

Nhưng mấy ai ở trên đời

Phút lâm chung đã muốn rời thế gian

Hầu như hết thảy nhân loài

Chỉ mong trở lại thế gian vô thường

Để mà hưởng thú đau thương

Những Bị cùng Tại dẫn đường trầm luân

Trải qua Tam Đạo phong trần

Một, Phiền Não Đạo, tham sân si này (950)

 

Cũng là hoặc đạo si ngây

Con đường bóng tối phủ vây đất trời

Hai, Nghiệp Đạo- nẻo đường đời

Thể hiện Nhân- Quả luật nơi kiếp trần

Thời, tùy xuân hạ thu đông

Vận, tùy thiện ác phân nhân quả đều

Nhân hiền gặp quả thương yêu

Nhân ác gặp quả bấy nhiêu não nề

Ba, Khổ Đạo, nẻo dầm dề

Những nước mắt với máu me đoạn trường (960)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tam Đạoấy ba nẻo đàng

Khổ nhiều vui ít muôn vàn đắng cay

Quả kia cũng tự nhân này

Do tâm si hoặc chẳng hay chính tà

Ba nẻo nhân cũng một mà

Ấy là ác đạo cho ta lụy phiền

Phải tu Tam Định sâu huyền

Vượt hết Bị Tại, mới nên Phật Đài

Một, không Tam Muội ấy là

Soi thấu các pháp Ta Bà đều không (970)

 

Chẳng qua giả hợp lông bông

Hai vô tướng Tam Muội- không tướng “mình”

Ba, vô nguyệnTam Muội tình!

Chẳng nguyện ước, chẳng tác sinh nỗi gì

Ngại vô cầu khéo uy nghi

Vô đắc, khéo thuận tùy chúng sanh

Tâm Tam Muội thật ơn lành

Cho ta thóat Bị, Tại thành tự do

Vui cùng Tam Nhẫn thơm tho

Một Âm Hưởng Nhẫn! nghe cho tỏ tường (980)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*Tam muội:do phiên âm tiếng Phạn: Samâdhi, dịch ra Hán văn là Thiền định. Đó là một phương pháp Thiền của Phật giáo để định cái tâm, không cho loạn động, nhờ đó mà tâm được sáng suốt và có năng lực lớn. Chư Phật, Bồ Tát, La Hán đều có phép Tam muội và các Ngài dùng nó làm phương tiện hộ thân và độ đời.

Để mà thấu suốt thiên lương

Hai, Nhục Thuận Nhẫn! Nhịn nhường chúng sanh

Nhịn nhường hoàn cảnh chung quanh

Một khi nhịn đặng xứng danh đại hùng

Nhẫn là khó nhất đúng không?

Ba, Vô Sanh Pháp Nhẫn: nhân thân rằng

Mọi sự vật chẳng thường hằng

Chẳng có tự ngã có chăng cũng là

Thấu rằng: “chẳng có” sanh ra

Nên sanh sức nhẫn gọi là vô sanh (990)

 

Với ba đức nhẫn an lành

Chẳng còn Bị, Tại nó hành hạ thân

Nương theo Phật tánh Tam Nhân

Hàng hàng thiện tính quyết tâm tu trì

Chánh nhân Phật tánhnghĩa gì?

Ấy là tánh Phật sẵn ghi trong mình

Nó là tự thể vô sinh

Nó là tự ngã bình sinh thường hằng

Vương theo tính Phật tròn căn

Mà xinh mà đẹp mà rằm … viên chân (1000)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*Chánh Nhân Phật Tánhlà Thật Tướng Bát Nhã, cũng tức là Phật Tánh của đệ nhất nghĩa không, Do quán chiếu mà chúng ta đạt được Chánh Nhân và chứng Thật Tướng.

 

*Phật tính  là thể bất sinh bất diệt của mọi loài theo quan điểm Đại thừa. Theo đó, mọi loài đều có thể đạt giác ngộ và trở thành một vị Phật, không bị đời sống hiện tại hạn chế.

Một thuật ngữ chỉ Phật tính khác là Bản lai thành Phật, nhưng ít phổ biến. Chủ ý có nghĩa là Phật tính ở mọi nơi, tất cả chúng sinh xưa nay vốn có Phật tính. Khái niệm này thường thấy trong các bộ kinh và luận của Đại thừa, như trong Đại thừa khởi tín luậnViên Giác kinh.

Hai, là Phật tánh hiếu nhân

Vương theo trí huệ dấn thân tới hoài

Cuối cùng ắt gặp Như Lai

Ba là Phật tánh hóa hoài duyên nhân

Khai phát công đức thậm thâm

Thành tựu Phật quả mười phân vẹn mười

Cõi tâm vô thượng thảnh thơi

Chẳng còn Bị, Tại xoay đời đảo điên

Nương theo Tam Pháp hiện tiền

Một tâm bất thối đi lên Phật Đài (1010)

 

Một làgiáo pháp Như Lai

Ấy là Tam Tạng* chứa lời thuyết minh

Ấy là Thập Nhị Bộ Kinh

Gồm Kinh, Luật, Luận phân minh rạch ròi

Hai làhành pháp tuyệt vời

Ấy là pháp Phật gồm nơi Tam Thừa

Một làTứ Đế công phu

Khổ Tập Diệt Đạonhư như hiện tiền

Hai làThập Nhị Nhân Duyên

Chiếu kiến duyên khởi nên Duyên Giác Thừa (1020)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*Chỉ Tam Tạng Kinh là ba bộ kinh quan trọng nhứt của Phật giáo, chép lại tất cả lời thuyết pháp của Đức Phật Thích Ca trong suốt 45 năm hoằng pháp của Ngài, tạo thành một nền giáo lý và triết lý rất cao siêu của Phật giáo.

Tam Tạng Kinh gồm ba bộ: Kinh Tạng, Luật Tạng, Luận Tạng.

Ba là Lục Độ công phu

Ấy hạnh Bồ Tát đại thừa giác tha

Chúng sanh Bị Tại sa đà

Thanh Văn, Duyên Giácvượt qua vô thường

Từ hỏa nội đắc thanh lương

Công phu Lục Độ mở chương Đại Thừa

Hạnh Bồ Tát quả du du

Chẳng còn Bị Tại như như Niết Bàn

Ba làchứng pháp vẹn toàn

Ấy pháp chứng đắc lành trong Tam Thừa (1030)

 

Lời vàng Đức Phật muôn xưa

Nương Tam Phật Ngữ khéo vừa chúng sanh

Một tùy tự ý ngữ lành

Là lời Phật tự ý mình bảo ban

Thuyết minh chân lý vẹn toàn

Hai tùy tha ý ngữ: nương thỉnh cầu

Của người học đạo nông sâu

Khế cơ đối trị ngõ hầu lợi tha

Tùy tự tha ý ngữ

Phối hợp cả Tự cả Tha vuông tròn (1040)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*Tam Phật Ngữ: cũng gọi là Phật Tam Ngữ, Tam Ý Ngữ. Chỉ cho 3 thứ ý ngữ của Phật

Tùy tự ý ngữ: Phật tùy thuận tự ý nói ra pháp nội chứng chân thật thực rõ ràng.

Tùy tha ý ngữ: Phật tùy thuận căn cơ chúng sinh mà nói các pháp phương tiện.

Tùy tự tha ý ngữ: Lời vừa tùy thuận tự chứng, vừa tùy theo đối cơ mà nói.

Vương Tam Phật Ngữ  vàng son

MởTam Phật Tánh diệu thường xưa nay

Một, tự tánh trụ tròn đầy

Ấy là Tánh Phật xưa nay vốn là

Hai, tánh Phật dẫn xuất ra

Ấy công phu định Thiền Na phục hồi

Tánh Phật sẵn trong mọi người

Chẳng qua tập nhẫn thói đời bạc đen

Một khi lọc sạch bùn đen

Tánh Phật ắt trổ hoa sen tuyệt vời (1050)

 

Ba, chí đắc quả rạng ngời

Một phen Bị Tại hết thời lung lăng

Bấy giờ nguyệt tỏ gương rằm

Phật Tánh hiển lộ vinh thăng Phật đài

Vượt qua Bị Tại dong dài

Trước nhờ Ngũ Giới cho ai vững vàng

Tiến lên những bước Niết Bàn

Sau nhờ noi dấu bước đàng Tam Quy

Một là qui Phật Mâu Ni

Hai là qui Pháp huyền vi Phật Đà (1060)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ba: qui Tăng bậc xuất gia

Hiện thân sứ giả của nhà Như Lai

Ngoài quy y Phật bên ngoài

Ngoài qui y Pháp, Tăng ngoài thân tâm

Còn qui yPhật, Pháp, Tăng

Qui y Tam Bảo bên trong chính mình

Tự Qui Y Phậttròn xinh

Trọng niềm đương nguyện chúng sanh thệ nguyền

Giải mình đại đáo uyên nguyên

Phát tâm vô thượng tam thiên Phật Đà (1070)

 

Tự Qui YPháp bao la

Trong niềm đương nguyện thiết tha vô ngần

Thâm nhập kinh tạng thậm thâm

Trí huệ như hải mười phân vẹn mười

Tự Qui Y Tăngtuyệt vời

Trọng niềm đương nguyện kiếp đời chúng sanh

Thảy hết đại chúng xung quanh

Nhất thiết vô ngại vô sanh Niết Bàn

Tự Tam Qui.Vậy- rõ ràng

Là mở Tam Trí vẹn toàn Tam Thân (1080)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*Tam Thân - 3 thân
Chư Phật có ba thân là Pháp thân, Báo thân và Ứng hóa thân.
1.- Pháp Thân: Chân-thân của Phật, đầy đủ vô lượng pháp công đức.

2.- Báo Thân: Do gây nhân công-đức nhiều đời mà hiển thị thân Phật trang nghiêm.

3.- Ưng Hóa Thân: Do Phật trí biến hóa nhiều thân, tùy theo căn cơ chúng sinh mà hóa độ.

 

 

 

 

 

Toàn bộ lợi nhuận của công ty cổ phần Đại Nam không chia cho cổ đông. Lợi nhuận sau khi tái đầu tư, công ty sẽ dành 100% lợi nhuận còn lại cho quỹ từ thiện Hằng Hữu hoạt động vì cộng đồng, đặc biệt là chương trình mổ tim dành cho trẻ em