Những bước về Linh - Phần 1

Những bước về Linh - Phần 1

 

NHỮNG BƯỚC VỀ LINH

 

Những bước về Tâm để có Linh

Bước về Tâm để có Tâm kinh

Về Tâm ắt có Linh mầu nhiệm

Tâmvượt ra ngoài lẽ tử sinh.

Tứ Bất Tử, tứ huyền linh

Tản Viên Sơn Thánh – Sơn Tinh Ba Vì

Tượng trưng sức mạnh thần kỳ :

Dĩ tĩnh chế độngnhu thì thắng cương.

Lại tượng trưng chí ngoan cường

            Vượt thiên tai, dựng thiên đường ấm no.

 

Bé Phù Đổng, tượng trưng cho

Tinh thần độc lập tự do Việt Thường.

Phá cường địch, trấn biên cương (1)

Quét xong giặc, lại “ cố hương” quay về

Chử Đồng Tử : “ Mối tình quê”

Mối tình vương giả “ đề huề” (2) thứ dân.

 “ Chàng trai không áo không quần”

Cưới cô “ Công chúa toàn thân ngọc ngà”

Thì ra … thì ra … thì ra …

                Và Tứ Bất Tử (3) nguy nga cuối cùng.

 

                       Là nàng Công Chúa gấm nhung

Xưng danh Liễu Hạnh, con cưng Ngọc Hoàng

Ba “ ông” xưa thời Hùng Vương

Được dân gian phụng thờ hàng ngàn năm.

Mỗi riêng Liễu Hạnh là nàng

Cuối Lê mới được dân gian phụng thờ

Tương truyền – như một bài thơ

Nàng Quỳnh Hương, con đức Vua Thiên Đình.

Lỡ tay vỡ chén ngọc xinh

          Bị Ngọc Hoàng phạt, giáng sinh cõi phàm(4)

 

Làm giáng tiên của Phương Nam

Tuổi vu qui, lấy Đào Lang làm chồng.

Ba năm, tưởng dứt nợ trần

Giáng Tiên giá vũ đằng vân(5) về trời

Hay đâu chưa dứt duyên đời

Tiên lại được Trời sai xuống thế gian.

Lần này, cũng tại Nam Bang

Liễu Hạnhlà nàng – đức hạnh trang nghiêm

Con trời – cháu Bụt – nòi Tiên

            Thánh Mẫunhơn hiền, phổ độ quần sanh. (6)

 

Nơi miền phố Cát xứ Thanh

Ngày nay còn dấu anh linh diệu thường

Phủ Giày, Phú Cát, Sùng Sơn

Vụ Bản Nam Địnhkhói hương tam tòa. (7)

Lời rằng “ Tháng tám giỗ Cha

Tháng ba giỗ Mẹ …” chan hòa nghĩa ân

Cha đây là Đức Thánh Trần

Công huân đáng bậc đế quân sơn hà!

Mẹ là Liễu Hạnh anh hoa

              Tượng trưng đức hạnh Đàn Bà Việt Nam

 

Vì sao trong cõi dân gian

Gọi Tứ Bất Tử ? một Nàng ba Ông.

Vì trong tâm thức cộng đồng

Vốn mang sẵn  Bốn Điều Trông Cậy này

Một làkhắc phục Thiên Tai

Hai là chống lũ giặc ngoài xâm lăng.

Ba là tình nghĩa trăm năm

Bốn là rạng vẻ Trăng Rằm Từ Bi

Bốn điều tâm khảm khắc ghi :

              Từ TÂM ấy hóa LINH kia. Tuyệt vời !

 

 

 

 

 

                                   Ngoài Tứ Bất Tử trên đời

Tứ Bất Tửtrong tâm Người Việt Nam

Lung linh trong ánh đạo vàng

Khắp nơi : NamĐịnh, khang trang phủ Giầy

Đền Sòng Thanh Hóalinh thay

Sùng Sơn Hà Nội, Phủ Giầy, thành phố Hồ Chí Minh

Non linh thì nước cũng linh

Cha mẹ hiền lành để phúc cho con

Ngoài Tứ Bất Tử, ta còn

                Bao vị hào kiệt quê hương phụng thờ.

 

Ai về Yên Thắng, Yên Mô

Mà nghe thần phả đền xưa Núi Hầu

Vũ Lâmcông đức nghìn sâu

Là con vua Lạc, tổ đầu Văn Lang

Đời vua thứ nhất Hùng Vương

Vũ vâng lệnh chúa, lên đường an dân

Đến vùng Thác Dưỡng sơn lâm(8)  

Tìm được Búng báng(9)  giúp dân no lòng

Kinh bang tế thế (10) dày công

              Trải đời Mười Tám Vua Hùng hiển linh.

 

                      Theo truyền thuyết tỉnh Hòa Bình

Ngài thuộc tam vị thần linh gọi là

Tản Viênlà một, hai là Cao Sơn

Ta là Qúy Minh đại vương

Giúp vua giữ vững giang sơn Việt Thường

Đồng bào hai tộc Kinh, Mường

Đời đời lễ hội, khói hương tâm truyền

Ngoài ba vị thánh Tản Viên

Còn Lâm Cung Thánh Mẫu trên thượng ngàn. (11)

 

 

 

 

 

Theo niềm tín ngưỡng dân gian

Thánh Mẫu Thượng Ngànquản trị lâm sơn

Giúp cho non nước Việt Thường

Phong điều vũ thuận (12) đôi phương thuận hòa

Còn hai vị mẫu kia là

Mẫu Liễu, Mẫu Thoải: Tam tòa thánh cung

Trình tự Việt đẹp vô cùng

Có cha có mẹ : thủy chung đôi bề

Thung Huyên (13) đôi bậc đề huề

                Âm Dươngđôi vế nguyện thề sắc son.

 

                             Ai rằng : nữ ty nam tôn (14)

Việt Nam văn hóa thiên lương Lạc Hồng

Mẹ Tiên bên cạnh cha Rồng

Kề vai xây dựng cõi lòng nguy nga

Cội nguồn Mẫu Thượng Ngàn

Ái nữ của Tản Viên Mỵ Nương

( Là rể, con của Hùng Vương

Đời thứ mười tám – Việt Thường sử ghi )

Thiên hương quốc sắc (15) ai bì

        Nhũ danh (16) … truyền thuyết : còn ghi La Bình.

 

Đương thời thân phụ Sơn Tinh

Ra công truyền dạy phép linh độ đời

Theo cha đi khắp biển trời

Học dân đủ phép chăn nuôi, cấy trồng

Ngư, Tiều, Canh, Mục (17)làu thông

Nữ nhi sánh thực ngang tầm nam nhi

Thông minh hiếu thuận ai bì

Thay cha, đảm việc tu mi can trường

Khi Tản Viên cùng Mỵ Nương

               Được phong bất tử đảm đương sơn hà.

 

 

 

 

                                  La Bình, nương đức mẹ cha

Được phong công chúa quê ta Thượng Ngàn

Giúp cha gánh việc trần gian

Trông nom tám mốt động, hang, núi rừng

Tấm lòng Thánh Mẫu bao dung

Lo cho trăm họ sống trong thái bình

Cùng bao vị thánh, thần linh

Ngày đêm phù hộ dân mình an khương

Tương truyền khắp dải giang sơn

                      Từ bao đời vẫn thụ ơn hộ trì.

 

Bao phen kháng chiến trường kỳ

Quân ta vẫn cậy đức uy Thượng Ngàn.

Vẫn theo truyền thuyết dân gian

Suốt cuộc kháng chiến Non Lam trường kỳ

Thượng Ngànđã trổ thần uy

Giúp dân ta thoát, trùng uy bao lần

Lại truyền sức mạnh tinh thần

Để, sau rốt, quét sạch quân tham tàn

Niệm ơn  công chúa Thượng Ngàn

              Nơi nơi lại dựng đàn tràng (18)vinh danh

 

                      Bên cạnh “ Thánh Mẫu rừng xanh”

Thủy Cung Thánh Mẫu: Mẹ lành biển sông.

Nguồn đâu cho nước mênh mông

Cội đâu cho đóa hoa hồng nở ra

Niệm ơn Thánh Mẫu hải hà

Giúp dân gió thuận mưa hòa chỉn chu

Hạn hán thì Mẫu làm mưa

Bão lụt, Mẫu lại cho mưa gió ngừng

Dáng hiền như Phật Quan Âm

        Mẫu mặc áo trắng tượng trưng Trong Lành

 

 

 

 

Thủy Tề Hoàng Hậutrăm xinh

Hộ dân công đức, xứng danh mẹ hiền.

Tam tòa Thánh Mẫutrang nghiêm

Liễu Hạnh, Thượng Ngàn, Mẫu Thoảianh linh

Làng Viêm Xá, tỉnh Bắc Ninh

Còn giữ tờ sắc phong danh Thành Hoàng

Dành cho Mẫu Thoải đoan trang :

“ Nhữ Vương Nam Hải Đại Vương”– sắc đề

Xem trong nghĩa đạo tình quê

                 Gẫm ra ba Mẫu khác chi tâm mình

 

                            Tấc lòng kính mộ anh linh

Tấc lòng trọng đức hiếu sinh sinh thành.

Tấc dạ cù lao (20) sẵn dành

Tấc dạ trong lành nghĩa nước tình non

“ Dù cho sông cạn đá mòn

Con Tằm đến thác vẫn còn vương tơ ”

Suốt miền quê mẹ ngàn xưa

Mẫu Thoảiđược thờ khắp các đền thiêng

Những ai con cháu Rồng Tiên

       Giỗ Mười Hai Tháng Sáuchẳng quên năm nào

 

Vua Lý Thái Tổ thời nao

Chính sách trị thủy xiết bao công trình.

Cũng nhờ Mẫu Thoải hiển linh

Giúp rập công trình mới sớm nên công

( Mẫu là chúa của trăm sông

Là hoàng hậu của Long Cung Thủy Tề

Như lời đã kể trên kia )

Ôi ! Cái thời của đề huề tâm linh

Cái thời của vật, tâm là một

                     Dương cùng âm là một chẳng hai

 

 

 

 

                                   Cái thời chiều rộng thật dài

Chiều sâu thẳm biển, vút trời chiều cao.

Cái thời hồn hậu xiết bao

Người ta sống giữa tự hòa tiêu diêu (21)

Bại không nản, thắng không kiêu

Cái thời Đời, Đạo, võng điều sánh đôi

Cái thời Trời cũng là người

Cùng Tiên Thánh Phật với đời hòa chung

Trở về chuyện Mẫu : Thăng Long

         Nay còn di tích Mẫu trong bao làng

 

Nhật Chiêu, Quảng Bá… khói hương

Tây Hồ, Yên Phụ… ( dân thường nhớ ơn ! ).

Tích truyền : Phật Mẫu Man Nương (22)

Ngày xưa … có một cô Nường bé thơ

Mười hai tuổi đã vào chùa

Xuất gia đầu Phật nam mô tu hành

Một đêm, gió mát trăng thanh

Có vị tăng bước qua mình Man Nương

Thế rồi … cảm thụ phi thường

             Man Nương thai nghén – dài hơn hai kỳ

 

Những tròn mười bốn tháng kia !

Rồi, sinh hạ một hài nhi trăng rằm.

Bèn đem trao bé cho tăng

Khâu Đà La, vịHồ Tăng, mỉm cười

Cầm cây tích trượng (23) gõ chơi

Vào thân dung thụ, tức thời tách ra

Tăng đặt đứa trẻ vào – và

miệng cây khép lại. Quả là thần thông !

Đoạn trao tích trượng  - Gậy Rồng

              Bảo nàng hãy nhớ đem dùm cứu dân

 

 

 

 

Khi nào hạn hán cháy đồng

Cắm trượng xuống đất, ắt “ thông suối nguồn ”.

Bấy giờ gặp vận tai ương

Ba năm hạn hán. Man Nương nhớ lời

Đem gậy cắm xuống đất – thời

Nước đâu từ dưới đất khơi suối nguồn

Mãi theo đầu gậy trào tuôn

Cứu dân gian khỏi tai ương hạn nồng

Sau cơn cửu hạn (24) , bỗng dưng.

                Một cơn mưa đốn gốc Dung thụ già

 

                            Theo dòng trôi tận miền xa

Bấy giờ, quan thái thú là Sĩ Công (25)

Bèn ra lệnh kéo cây Dung (26)

Lên bờ, đặng lấy gỗ dùng “việc thiêng”

(Tức làm nóc điện Kính Thiên)

Nào hay cây nọ nằm yên giữa dòng

Trơ như đá, vững như đồng

Trăm quân không kéo được thân cây vào

Giữa cơn trì kéo lao xao.

                Man Nương lấy dải yếm đào cột cây

 

Thế là kéo được vào ngay

Sĩ Nhiếpkinh sợ, tuyển ngay thợ tài

Dùng cây tạc tượng “Bốn ngài

Vân – Vũ – Lôi – Điện(27) thần oai lạ lùng

Trong khi tạc tượng, bỗng dưng

Đám thợ bắt gặp một “ông tượng người”

Vội đem thả giữa dòng khơi

Đến đêm, tượng đá sáng ngời lòng sông

“Quan cho quân vớt chẳng xong”

                 Lại nhảy vào lòng mẹ trẻ Man Nương.

 

 

 

 

                             Bốn pho tứ pháp “ nên chương”

Được chia trấn bốn đạo trường Già Lam (28) :

Chùa Dâu, Chùa Đậu, Tướng, Dàn (29)

Riêng làng Mãn Xá thờ nàng Man Nương

( Gọi là Phật Mẫu thân thương )

Hàng năm đón khách mười phương hội chùa

Riêng “ pho tượng đá” ngày xưa

Vẫn còn tỏa sáng trong chùa Phúc Nghiêm

Thạch Quang Phật : ấy là tên

 “ Tác phẩm thiên tạo” của miền Bắc Ninh.

 

Về thăm quê mẹ huyền linh (30)

Từ Liêm, Hà Nội, Bắc Ninh… bao miền

Nay còn bắt gặp bao đền

Cùng thờ một họ một tên linh thần

Cao Lỗ,vị tướng quân thời đại

An Dương Vương– Thần thoại còn ghi rằng

Chế ra chiếc nỏ thần uy

Nỏ Liên Châumóng Kim Quy lẫy lừng

Một phát nỏ, tên trùng điệp tỏa

                    Như mưa sa, đốn ngã cường xâm.

 

                      Nhờ Liên Châu của tướng quân

An Dương Vươnggiữ Vạn Xuân yên lành

Chuyện xưa tích cũ ghi rành

Triệu Đàthâm hiểm, rắp tâm trả đòn

Bèn sai Trọng Thủy cầu hôn

Cưới Mỵ Châu. Xong tráo luôn nỏ thần

Thế là giặc ngoại xâm xốc tới

Móng Kim Quy,ơi hỡi còn đâu ?

Phép thần của nỏ Liên Châu

             Thoắt đâu theo mộng vương hầu tan hoang.

 

 

 

 

Trong cơn nước mất nhà tan

An Dương Vươngvội chở theo nàng Mỵ Châu

Cỡi ngựa chạy suốt đêm thâu

Những mong thoát nạn. Ngờ đâu cô nàng

Lén rải lông ngỗng lên đàng …

Chuyện xưa ghi lại một trang đoạn trường.

Bên cái chết An Dương Vương

Cái chết Cao Lỗ: một trương bi hùng (31)

Tận trung theo Chúa đến cùng

               Thác rồi còn để gương Trung vạn đời

 

Quê Hùng ở khắp nơi nơi

Gia Lâm, Hà Nội … tình người tiếc thương

Đền … đền … tỏa … tỏa khói hương

Đời Trần phong sắc : “Hỏa Nhị Cương … Chính Thần”

Quê ta còn đó Trống Đồng

Trống Đồng chuyên chở tinh thần Việt Nam.

Mùng bốn tháng tư hằng năm

Lễ hội Thuần Việt kết giăng hoa đèn

Tích xưa truyện cũ lưu truyền(32)

        Thái tử họ Lý bình Chiêm (33) năm nào

 

Khi qua một ngọn núi cao

Nằm mơ thấy một người… cao hơn người

“ Râu hùm hàm én mày ngài ”

Taycầm binh khí sáng ngời uy phong

Rằng : “ Tôi thần núi Trống Đồng

Xin theo thái tử lập công báo đền ”.

Xuất quân lần ấy quả nhiên

Thái tử thắng trận, cho nên khi về

Ngang qua  “ Đồng Cổ” (34) non kia

           Bèn dâng lễ, rước thần “ vị ” về Thăng Long

 

Lập đền thờ ở thôn Đông

Phường Yên Thái, tưởng niệm công âm phù (35)

Tự rày, hương khói ngàn thu

Trải vua triều Lý, qua vua triều Trần

Thần còn ứng hiện bao lần

Sắc son hộ quốc trì dân (36) một lòng.

Với hai pháp khí lẫy lừng

Một là chiếc Đại Hồng Chung (37) cõi thiền

Hai là chiếc Trống Đồng Thiêng.

         Tự trăm xưa đã nên duyên Việt Thường

 

Hợp thành đôi vế âm dương

Như Âu bên Lạc, sắc hương sum vầy

Trấn Sơn Yên Tửnon này

Lại Trấn Quốc kinh đô này Thăng Long

Mỗi năm, cứ độ vào xuân

Đại Hồng Chunglại một lần ngân nga

Gọi mây phủ trắng sơn hà

Từ trên thượng giới lại sa mưa lành

Chuông kia, trống nọ song hành

               Giúp quê ta đẹp yến oanh ngàn đời

 

                             Từ ngày Đồng Cổ về ngôi

Hòa âm cùng tiếng chuông nơi kinh kỳ

Tạo nên khúc nhạc huyền vi

Vừa trầm vừa bỗng vừa bi vừa hùng

Ngân nga thái vận trùng hưng (38)

Võ công văn nghiệp (39) lẫy lừng nghìn thu

Hội thề Đồng Cổ tháng tư

Cùng mùa Phật Đản tháng tư song hành

Quê ta kết tụ duyên lành

               Tiên đây Bụt đó long lanh đạo tình

 

 

 

 

Bên Tứ Bất Tử trăm xinh

Còn bao thần vị quê mình Đàng Trong

Bắc Namchung một Lạc Hồng

Cù lao Huâncũng chung long mạch này

Tỉnh Khánh Hòa trầm hương bay

Và huyền thọai cũng xanh mây chín tầng

Ngày kia có đôi vợ chồng

Trồng dưa độ nhựt, mỗi trong ngày mùa

Một hôm ra bãi, tình cờ

                 Gặp một cô bé nô đùa tung tăng

 

Trộm dưa nào phải để ăn

Mà chỉ để được nghịch bằng … trái dưa

Mãi xem trò chơi ngây thơ

Vợ chồng ông lão chợt như nghe lòng

Có điều chi rất hừng đông

Y như có ánh xuân hồng thoáng qua

Họ cùng không hẹn mà … mà …

Cùng ôm cô bé để mà thương … thương …

Thế rồi thăm hỏi nguồn cơn

              Mới hay bé cũng cô đơn … như già

 

Thế là … thế là … thế là …

Bé có cha mẹ, “ già” mà có con

Một hôm … ( ôi, cái một hôm ! )

Nước từ đâu tận thượng nguồn mênh  mang

Tràn về ngập hết xóm làng

Và cô bé bị nước tràn cuốn đi

Cũng may giữa lúc lâm nguy

Bé gặp một khúc gỗ kỳ trôi qua

Bèn ôm lấy khúc gỗ, và

                 Một kỳ tích bỗng xảy ra tức thời

 

 

 

 

Hồn cô xuất khỏi thân người

Nhập vào khúc gỗ để rồi … lênh đênh

Trôi qua bao thác, bao ghềnh

Cuối cùng, đỗ lại một thành phố xa

Thấy khúc gỗ đẹp dường hoa

Người dân sở tại xuýt xoa, tranh phần

Có điều khúc gỗ, thanh tâm

Ngđâu lại nặng, nghìn cân, khôn bề…

Tiếng đồn khắp chợ cùng quê

                   Bấy giờ có một chàng kia vốn là

 

Một trang hoàng tử hào hoa

Vi hành đi kiếm “ tiên nga giáng trần ”

Rắp ranh (40) kết nghĩa Châu Trần (41)

Chợt nghe chuyện lạ, vội lần đến nơi

Thấy khúc gỗ xinh tuyệt vời

Chợt nghe xúc động bồi hồi tâm can

Chút chi như nghĩa đá vàng (42)

Chàng bèn xấn đến bên “ nàng ” đưa tay

Ôm chầm “ khúc gỗ thơ ngây ”

            Tự dưng khúc gỗ ! Lạ thay!“ nhẹ người ”.

 

In tuồng một cánh hoa thôi

Mặc cho chàng nhẹ ôm, rồi “ ẵm” đi

Bà con thấy chuyện lạ kỳ

Cho rằng ắt có duyên gì cũng nên

Thế rồi ôm khúc gỗ tiên

Hoàng tử trở gót về miền quê hương

Thoạt đầu nghe chuyện phi thường

Người người ai cũng tìm đường tới thăm

Để nhìn khúc gỗ ngàn năm

                 Đẹp như một bóng trăng rằm tinh khôi

 

 

 

 

Lại xinh như một nụ cười

Có điều, mãn nhãn(43)thì thôi hiếu kỳ

Riêng chàng hoàng tử tình si

Ngày đêm ôm ấp kể chi đêm ngày

Mối tình cảm động thơ ngây

Làm cho gỗ cũng có ngày hóa thân

Trở mình thành một giai nhân (44)

     Thiên hương quốc sắc (45) mười phân vẹn mười

               ( Cho hay muôn sự tại trời

         Cội nguồn cũng ở lòng người mà ra )

 

Cảm từ một mối thiết tha

Hồn trong gỗ lại hóa ra thành người

Thế là trời đất trăm tươi

Âm dương giai điệu tuyệt vời sinh ca

Ấm thơm hương hỏa hoàng gia

Giai nhân hoàng tử hóa ra vợ chồng

Một trai một gái nối dòng

Y nhiên mối hạnh phúc, trong nhân hoàn (46).

Có điều mây hợp mây tan

               Có điều : hoa nở hoa tàn mấy lăm

 

Cưới nhau vừa được ba năm

Chàng hoàng tử lại “ động lòng bốn phương” (47)

Đành đoạn dứt áo người thương

Để đi tìm những sắc hương bên trời

Vợ hoàng tử nghĩ hận đời

Bèn ôm hai đứa con, rồi … úm ba la

Nhập vào khúc gỗ tinh hoa

Theo dòng trở lại Khánh Hòa như xưa

“ Xung quanh lạnh ngắt như tờ ”

                   Mẹ cha nuôi đã mất từ năm kia

 

 

 

 

Ơn sâu nghĩa nặng đôi bề

“ Kỳ Nam ”bèn quyết chọn quê hương này

Thế rồi bằng sức đôi tay

Nàng ra công dựng, công xây không ngừng

Chẳng bao lâu chốn biển rừng

Đã thành một cõi vương cung huy hoàng

Rõ là lạc cảnh trần gian

Lại nói về hoàng tử – chàng lãng du

Sau bao năm tháng phiêu lưu

         Nếm cho đủ vị phong lưu trên trần

 

Chợt có một lúc dừng chân

Lắng nghe tiếng gọi lương tâm vọng về

Động lòng nhớ nghĩa phu thê

Vội trở thuyền về tìm lại “ người thương”

Ngờ đâu … trên bước hồi hương

Chợt sa vào trận trùng dương sóng thần

Thế là biển cả vùi thân

Mang theo cả mối lương tâm trễ tràng

Và, từ đáy biển trầm oan (48)

          Chợt đâu vươn dậy, giữa làn sóng xanh

 

Một mô đá nhỏ long lanh

Với những “ nét chữ ” loanh quanh. Có điều

Dù thầy giỏi chữ bao nhiêu

Cũng không đọc được những điều trối trăng(49).

Kể từ ấy, vạn mùa trăng

Dân đi biển, dân tìm trầm, Kỳ Nam

Khắp nơi, quanh miệt Đại An

Thường bày lễ vật, lập đàn tràng lên

Để cầu ơn của nàng tiên

      Tôn xưng bà Chúa Ngọc ( miền Champa

                           Gọi là Thánh Mẫu Thiên Y Na )

 

 

 

Qua triều Nguyễn, sắc phong là : “ Hoàng Nhân

Phổ Tế Linh ng Thượng Đẳng Thần(50)

Bấy nay vẫn được nhân dân kính thờ

Trong Tứ Bất Tử nghìn xưa

Chử Đồng Tử đẹp tờ hoa tiên (51)

Người làng Chử Xá – Hưng Yên

Cùng nàng công chúa nên duyên vợ chồng

Nàng công chúa tên Tiên Dung

           Con đức Vua Hùng, triều đại thứ ba

 

Truyện rằng, công chúa ngọc ngà

Thường dong thuyền khắp giang hà rong chơi

Một hôm nhân buổi đẹp trời

Nàng ra lệnh đỗ thuyền nơi quê chàng

Đoạn cho thị nữ vây màn

Để cho người ngọc đoan trang tẩy trần

Khi từ gáo nước qua thân

Thì từng lớp cát dưới chân chảy dài.

Để lộ hình một chàng trai

         Mình trần trụi “chẳng giống ai” chút nào.

 

Ngỡ ngàng như giấc chiêm bao.

Lại ngượng ngùng phận má đào thơ ngây

                            Thế rồi …

Một nàng thì đứng mà ngây.

Một chàng nằm đó cũng ngây như nàng

Cuối cùng, qua phút bàng hoàng

Công chúa ngượng hỏi: “Thế chàng là ai?”

Rằng: “Quê tôi ở xóm này

Cha con rau cháu qua ngày bên nhau

Tưởng rằng suôn sẻ ngờ đâu.

                  Một cơn hỏa quét sạch làu tư gia.

 

 

 

 

 

Của riêng còn đến bây giờ

Là mỗi chiếc khố dùng cho hai người

Cha tôi nhiễm bệnh lìa đời

Tôi mặc chiếc khố cho người…rồi chôn

Còn tôi thân phận trần truồng

Ngày lặn dưới nước, đêm luồn bụi cây.

Trốn hoài cho đến hôm nay.

Được tin công chúa tới đây, tôi đành

Chui sâu vào cát ẩn mình

                Ai ngờ!”. Chàng kể sự tình éo le

 

Công chúa lẳng lặng mà nghe

Càng nghe càng thấy lâm li cõi lòng

Bèn rằng: “Một sợi tơ hồng…

Thì xin kết nghĩa vợ chồng trăm năm”

Thuyền rồng đẹp lễ hoa đăng

Ngờ đâu … thuyền chẳng thuận dòng… quê hương.

Vì chưng Vương phụ Hùng Vương

Nghe tin con vượt Đạo Thường gia phong (53)

Bèn ra lệnh cấm Tiên Dung

         Quay về cung điện – (quyết không dung tình!)

 

Nghe cha nổi giận lôi đình

Tiên Dungbèn rẽ thuyền rồng ra khơi

Lênh đênh góc bể chân trời

Cuối cùng, đỗ lại một nơi đất lành

Thế rồi như yến có oanh

Như oanh có yến - như mình có ta

Hai người chung dựng nghiệp nhà

Mở chợ Hà Thám (54) để mà bán buôn

Bấy giờ có vị khách thương

             Đến rủ họ vượt trùng dương buôn hàng

 

 

 

 

Chử bèn “đi một ngày đàng”

Gọi là để “học một sàng khôn” chơi!

Một hôm, thuyền ghé một nơi

Giữa biển, giữa trời, gọi đảo “Quỳnh Tiên”

Vui chân , Chử bước dần lên.

Chợt đâu gặp một vị “Thiền Sơn Tăng” (55)

Bảo chàng “Thí chủ nhớ chăng

Kiếp xưa đã gặp vầng trăng cõi mình?”

Nghe lời, chợt động tâm linh

               Chử bèn thụ giáo tâm kinh thượng thừa

 

Phật Quang, tên vị thiền sư

Trao cho Chử chiếc gậy như ý thần.

Rằng: “Đây là gậy thần thông

Mai sau nó sẽ giúp ông cứu đời”

Sau khi học đặng phép trời

Chử trở  về đời hành đạo sắc không (56)

Một là dẫn “bạn Tiên Dung”

Vào chơi trong cõi sắc không với mình.

Hai là bỏ hết oan tình

  Những nhà những cửa những mình những ta

 

Ba là “ vui thú yên hà

Mai là bạn cũ, hạc là người quen

Ngoài phần tưlợi như nhiên

Còn phần công ích chí nguyền độ sanh

Chuyện xưa ghi chép ngọn ngành

Chử bất tử đã hiển linh bao lần

Giúp dân ta chống ngoại xâm

Bằng nguồn năng lượng tinh thần sâu xa

Một Chử bất tử lòng ta

                Trong Tứ Bất Tử nguy nga vạn đời

 

 

 

 

 

Niềm tin ở sức con người

Niềm tin ở thiện tâm tươi tốt này

Tích xưa còn lắm truyện hay

Như truyện Dưa Hấu của người An Tiêm

Người này ai chả biết tên

Tuy rằng chẳng phải thân quen họ hàng

Chẳng ai hay quốc tịch chàng

Chỉ biết đâu tận phương Nam tít mù (57)

Tấm thân nô lệ tội tù

                   Bị người đem gả bán cho Vua Hùng

 

Thương ai cá chậu chim lồng

Vua Hùng độ lượng một lòng chở che

An Tiêmcũng lắm tay nghề

Công, nông, y thuật … nghề gì cũng tinh

Vua Hùng có gái nuôi xinh

Nghĩ cũng thương tình bèn gả nàng cho

Cuộc đời chuyển hướng ấm no

Đầy sân gà vịt, đầy kho ngọc ngà

Một hôm, nhân lễ tân gia

              Khách đưa chúc tụng, nào là … vâng! vâng!

 

Chàng cười : “ Trong quả có nhân

Mà nhân là tự bản thân mọi người

Ngày nay mình được quả vui

 Là nhờ kiếp trước sống đời hiền lương”

Thói đời ghen tị lẽ thường

Có kẻ xấu nọ tìm phương hại chàng

Bèn đem lời nói đoan trang

Chở lý nhân quả, chỉnh trang lại, thành

Những lời “ Mỏ đỏ thần nanh ”

               Vong ân cha mẹ, phụ tình chúa tôi

 

 

 

 

Vua Hùng Vương cả tin lời

Bèn ra lệnh đuổi ngay đôi vợ chồng

Rằng : “ Ngươi phụ nghĩa vong ân

Trẫm cho tất cả, sao không ghi lòng

Còn đem chuyện nói lông bông (58)

Kiếp này kiếp nọ, tây đông nỗi gì

Đã vong ân thế, thôi thì … ”

An Tiêmgặp chuyện, chẳng hề hoang mang

Cuối đầu lạy tạ Hùng Vương

             Rồi lên thuyền vượt đại dương nghìn trùng

 

Trải bao sương gió bão bùng

Thuyền dừng ở một đảo vùng xa xôi

Đảo hoang không một bóng người

Chỉ toàn cá nước chim trời hoang vu

Vợ chàng trăm nỗi ưu tư

“ Lấy chi đây để chỉn chu gia đình ? ”

An Tiêmmột mực tín thành :

“ Ở hiền ắt phải gặp lành – lo chi ”

Thế rồi, đem sức kiên trì

               Của niềm tin Đạo Từ Bi trong lành.

 

Tháng ngày ra sức đấu tranh

Vượt cơn đói rét vây quanh mọi người

Những xây lều trại tươi mươi

Trồng cây hái củ muôn đời ấm no

Một hôm như sự tình cờ

Một đàn chim lạ đâu từ phương Tây

Bay về đậu trên đảo này

Đoạn, trước khi cất cánh bay lên trời

Con đầu đàn, giọng dài hơi

                Cất lên dăm tiếng như lời nhắn nhe

 

 

 

 

Rồi, nhả dăm ba hạt gì …

Thế rồi, tất cả bay đi … xa dần

Tưởng rằng câu chuyện phù vân

Ai ngờ, một sớm đầu xuân ngọt ngào

Từ trên bãi cát trắng phau

Vươn lên một cọng “ dây bầu ” xanh non

Thế rồi, những quả tròn đơm

Quả to như trái dừa, tròn như … thơ

Ngỡ ngàng như thể trong mơ

                 Bổ ra một quả, thấy dưa đỏ hồng

 

Hạt thì đen nhánh - như nhung

Nếm thử nghe ngọt thơm không gì bằng

Cả nhà được trái dưa ăn

Nghe đời mở hội hoa đăng rộn ràng

Từ ấy, một cảnh thiên đàng

Hiện thân giữa chốn đảo hoang lạnh lùng

Khắp nơi, dưa mọc, dưa trồng

Hàng ngàn, vạn trái dưa đồng thanh ca

Khúc ca hạnh phúc sum hòa

                  Rồi một hôm, vẫn như là giấc mơ

 

Một chiếc thuyền bị bão xua

Lạc vào bến đảo hoang vu ngày nào

( Mà bây giờ : lạc cảnh sao ! )

Những thuyền viên được mời chào bằng … dưa !

Nếm trái ngọt như nước … dừa

Và ngon như … chẳng trái dưa nào … tày (59)

Người thì gọi trái dưa tây

Người gọi dưa hấu … chỉ hay tự giờ

Đảo hoang biến thành đảo dưa

           Người dân đi biển thường đưa thuyền vào

 

 

 

 

Đem bao thực phẩm dồi dào

Để đổi cái vị ngọt ngào của dưa

Chẳng bao lâu kẻ lưu đồ

Trở thành một vị “đảo vua” phú cường

Lại nói về vua Hùng Vương

Từ ngày giận “kẻ vong ơn” đến giờ

Vua thường “ra ngẩn vào ngơ”

Vì nhớ tới kẻ đơn sơ thật thà

Lại thêm rất mực tài hoa

                   Chỉ mỗi một cái tội là “sàm tin” (60)

 

Những gì quả phúc nhân duyên

Những gì không sắc hảo huyền sắc không

Đơn tư nặng gánh bên lòng

Khiến cho bạc cả tóc ông vua già

Bấy giờ, họp mặt triều ca

Hùng Vươngra lệnh cho ba hải thuyền

Đi tìm tông tích An Tiêm

Để xá tội cũ cho yên dạ Rồng. (61)

Vượt qua muôn dặm bể Đông

           Một hải thuyền gặp được tông tích chàng

 

Nguy nga một cõi địa đàng

Phồn vinh rất mực, giàu sang ai tày

Sứ thuyền tỏ hết niềm tây

An Tiêmhởi dạ vâng ngay lệnh truyền

Khi đi độc mỗi chiếc thuyền

Khi về, cả một đoàn thuyền theo chân

Niềm vui biết lấy chi cân

Một là phụ tử quân thần đoàn viên

Hai là chứng thật đạo huyền :

                Lý nhân quả thật nhãn tiền không sai

 

 

 

 

Tâm linh há dễ đơn sai

Thạch Sanhcòn tiếng đàn ai bổng trầm

Nâng niu Những Bước Về Tâm

Ngày xưa … có đôi vợ chồng tiều phu

Tuổi già như cánh lá thu

Hắt hiu gió sớm, âm u sương chiều

Những mơ, những ước bao nhiêu

Có mụn con để nuông chiều, cậy trông

Hai người sẵn một tấm lòng

              Cắn đôi hạt gạo, chia chung mái lều

 

Tuy nghèo khó, dẫu cô liêu (62)

Vẫn dư cống hiến nhiễu điều giá gương

Thế rồi … một hôm … một hôm

“Vén mây đầu ngõ, tan sương giữa trời”

Thạch ông nhận được tin vui

Vợ mình đã được “ông trời đoái thương”

Có điều hơi khác lệ thường

Thai kỳ bà Thạch dài hơn ba lần

Đến khi sanh hạ “bé thần

                  Thì Thạch ông đã lìa trần khá lâu

 

Một thân góa bụa dãi dầu

Thạch bà rồi cũng về chầu tổ tiên

Giữa rừng còn mỗi “mình ên”

Thạch Sanhcứ thế lớn lên … như rừng

Sống đời hoang dã trong bưng

Học bài học của thú cầm hồng hoang (63)

Vốn là con cháu Ngọc Hoàng

Nên đến kỳ hạn tuổi chàng mười ba.

Ngọc Hoàngnhất lệnh truyền ra

             Tua đem phép thuật Trần gia dạy chàng

 

 

 

 

Chẳng bao lâu trẻ rừng hoang

Đã làu thông thập bát ban (64) cao cường

Một hôm … định mệnh khôn lường

Có anh hùng rượu vốn phường gian tham

Lý Thông– Tên họ anh chàng

Nghe lời đồn đại, tiện đường ghé thăm

Thấy chàng chơn chất thật thà

Bèn rủ rê kết nghĩa là anh em

Tình đời trăm nỗi bạc đen

             Thạch Sanh đâu trải nghiệm, bèn kết giao

 

Thế rồi giã biệt rừng sâu

Theo anh kết nghĩa đi “ vào trần ai ”

Lời quê góp nhặt dông dài …

Thì ra chốn ấy thờ loài “ trăn tinh”

Mỗi năm có lệ hiến sinh

Năm nay lại tới phiên mình Lý Thông

Nhưng dâng mạng chẳng cam lòng

Lý Thôngbàn dựng mưu thâm cứu… mình

Vội bày tiệc rượu, dỗ dành

            “ Xin em trực miếu thay anh đêm này

Toàn bộ lợi nhuận của công ty cổ phần Đại Nam không chia cho cổ đông. Lợi nhuận sau khi tái đầu tư, công ty sẽ dành 100% lợi nhuận còn lại cho quỹ từ thiện Hằng Hữu hoạt động vì cộng đồng, đặc biệt là chương trình mổ tim dành cho trẻ em