Những bước về Tâm

Những bước về Tâm

Lời ngỏ

 

Những bước về Tâmlà hiện thực của kiếp sống con người, kiếp sống muôn loài. Cách này hay cách khác – Những tám vạn bốn ngàn cách cơ mà! Tất cả chúng ta đều đang đi những bước về cõi Tâm và cõi Linh này.

        Con đường thì có con đường này, con đường kia! Không nhất thiết phải không có con đường nào khác. Nhưng cứu cánh , những mục tiêu thì chỉ có một.

Và để “về Tâm” – “về Linh” – Tuyệt nhiên ta phải có “những bước” Tuệ. Tuệ là khả năng để về Tâm – nhìn thấy Tâm, bắt gặp Tâm, “thành một” với Tâm

Tuệ có ba thứ : Văn Tuệ, Tư Tuệ và Tu Tuệ. Văn Tuệ là cái thấy, cái biết do đọc, do nghe. Tư Tuệ là cái thấy, cái biết do suy, do gẫm.Cuối cùng là Tu Tuệ là cái thấy, cái biết do tu, do sửa

- Trước hết hãy nói về Văn Tuệ. Văn Tuệ như đã nói, là cái thấy cái biết do đọc, do nghe. Đọc những gì do người khác viết, nghe những gì người khác nói. Đó là cái thấy,  cái biết của những học trò, những học giả. Cái Tuệ này là cái Tuệ gián tiếp qua người khác. Nó thiếu  tính thực chứng, do đó chỉ là một cái Tuệ na vời.

- Tiếp theo là Tư Tuệ - là cái thấy cái biết do suy gẫm. Cái Tuệ này mang tính phổ biến hơn cái Tuệ trên : ai – sinh vật nào – dù ít chữ nghĩa bao nhiêu, vẫn có cơ hội sẵn dành cho để suy nghĩ về điều thật lẽ giả, điều đúng lẽ sai, điều đẹp lẽ xấu vv…trên đời. Và điều may mắn cho mọi sinh vật, nhất là Sinh – Vật – người, là mọi cá thể đều tự hữu một bản năng tư duy suy ngẫm – bên cạnh bản năng con người mà triết học tây phương từng khẳng định : bản năng tự vệ và bản năng sinh tồn. Để có thể lần mà đi “những buớc về Tâm” – “ những bước về Linh”.

- Cuối cùng là Tu Tuệ. Do thành kiến, định kiến, người ta vẫn  thường quan niệm chữ Tu trong giới hạn tôn giáo. Tu đạo này, tu đạo kia, sự thật nghĩa chữ Tu rộng hơn rất nhiều, bao quát mọi lĩnh vực sinh họat. Tu là sửa, hễ cái gì đang sửa, đang chữa đều gọi là Tu. Mà vạn vật kể cả theo quan điểm của Darwin thì cũng đều đang Tu.

Một sinh vật thấp thỏi, tu sửa thừơng xuyên, từng giây từng phút, qua hàng triệu triệu năm, để đột biến, để thăng hoa, tiến mãi thành người “ tiến hóa luân” cũng không ra ngòai chữ Tu vậy!

Về tính cách phổ biến, trong ba cái Tuệ, cái Tuệ do Tu mang tính cách phổ biến hơn tất cả. Dù muốn dù không, dù có ý thức hay không, dù tích cực hay tiêu cực, chủ động hay bị động, vạn hữu cũng đang ở bên đường Tu, cũng đang gặt hái Tuệ bằng Tu .

Điều tuyệt vời nhất – do công bằng nhất – trong cõi “ Tu Tuệ” là bất cứ trong trường hợp nào, dù tích cực dù tiêu cực, dù chủ động dù bị động “ Cá thể đương có” cũng đều thừa hưởng được thành quả của Tuệ. Điều này khiến cho vạn vật

 

luôn được “ vỡ lẽ”, “vỡ lòng” trên con đường đi tới – Về gặp “ chính mình”

Một ví dụ cho dễ hiểu : một người đọc, nghe sách dạy bảo về lửa. Rằng lửa thì nóng, chớ sờ tay vào, sẽ bị phỏng tay. Một là anh chàng sẽ luôn tuân theo, thế là suốt đời không bị phỏng. Hai là anh chàng do ngu, do bướng : đã thọc tay vào lửa, để rồi bị phỏng. Bản thân thêm kinh nghiệm, bèn thấm thía cái chân lý lửa thì làm phỏng

Cả hai trường hợp: ngoan hay buớng, thuận hay nghịch – Cuối cùng cũng đều gặt hái được “ quả Tuệ” như nhau!

Điều rộng mở nhất cho các các sinh thể trong vũ trụ nằm trong lĩnh vực Tuệ Tu, Tu Tuệ đại khái là như thế!

Từ nhận thức này, chúng ta có thể triển khai thêm. Rằng : Trên mặt Tuệ Tu, một người có thể gặt hái nhiều thành quả lớn lao về Tuệ nhờ qua nhiều kinh nghiệm sống. Nói nôm na là nhờ “ đụng”. Đụng càng nhiều, Tuệ càng rộng mở.

Từ đây mà thử làm một việc qui kết – Về trường hợp Việt Nam.Ai cũng biết tư tưởng Việt Nam là tư tưởng Nho- Phật- Lão. Ba mối đạo hô ứng, hỗ tương, bổ sung  qua lại – để giúp con người trên đất nước này – cũng như nhiều dân tộc anh em khác – đủ khả năng, bản lĩnh để sống còn, sống đẹp. Ba mối đạo này tuy xuất xứ từ nơi khác, song lại phản ánh tuyệt vời nếp sống tinh thần của dân tộc này, bản sắc của dân tộc này. Nó, hiển nhiên , là một sự tương ứng. Tương ứng chứ không phải học đòi, bắt chước.

Vì rằng, trong bản chất, dân tộc Việt vốn đã là một cái gì rất Nho, Thích, Lão. Chẳng qua, đó là một cái gì rất Nho, Thích, Lão trong bản chất, trong sinh họat, chứ không phải Nho, Thích, Lão trong lập thuyết lập ngôn.

Cứ thử mở mắt nhìn qua một lượt về chiều dọc cũng như chiều ngang của dân tộc này, thì đủ thấy . Lịch sử Việt Nam là một lịch sử đấu tranh để tồn tại không ngừng không nghỉ. Không phải tồn tại như cỏ cây mà tồn tại như một chủ thể Tâm Linh với tất cả những gì cao đẹp của tinh thần.

Sự thể hiện, thực hiện Nho, Thích, Lão nói trên biểu lộ trên khắp đất nước này, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Không chỉ mỗi nơi cửa ngọc đền vàng, mà cả nơi những mái lều tranh. Những gì là Nhân- Nghĩa- Lễ- Trí- Tín, là từ bi hỉ xả, là vô úy, vô vi, đều được thể hiện nơi nếp sống của những người bình dân ít học, ít hiểu. Bởi vì bản chất của họ là như thế, bản lai diện mục của họ là như thế !

Là một người không may mắn đuợc Vinh Quang trong Văn Tuệ, kẻ viết bài này – Cũng như hai tập thơ lục bát nôm na này – Chỉ còn đuợc mon men đôi bước trong cõi Tư Tuệ và Tu Tuệ. Chẳng qua lấy hàng vạn những giọt nước mắt trằn trọc năm canh, tự mình đánh những dấu hỏi lớn về lẽ huyền vi của vũ trụ, về sự đen bạc của tình đời, chẳng qua bằng hàng trăm ngàn lần tao ngộ với nghịch cảnh thương đau mà thấu ra được chút Tuệ Tu .Nên mạo muội đánh bạo viết đôi dòng, gọi là trước đền ơn Trời Phật, sau đền ơn Đất Nước, rồi ơn Cha Mẹ – đã cho kẻ tầm thường này được hiện hữu nơi này, để có cơ hội hiến dâng tất cả trái tim , gọi là báo đáp trong muôn một.

                                      Cẩn bút!

                               Cảm tạ Thiên Ân

                              Đêm 23/07/2008 ÂL

 

                                                                 Huỳnh Uy Dũng

NHỮNG BƯỚC VỀ TÂM

 

Hỏi thăm Văn Hóa là gì ?

Văn là vẻ đẹp - vẻ huy vẻ hoàng

Bước đi nhân loại rỡ ràng

Tiến lên cái đẹp cao sang tinh thần

Hóa là chuyển hóa, chuyển luân

Thăng hoa tới cõi mỹ chân thiện hoài.

Mỗi ngày tiến tới tương lai

Từ đêm tối, tới ban mai không ngừng

Triều đời bất tuyệt không ngưng

              Cỏ hoa tươi rói chất từng xe Quay

 

Đời phi nhân loại hôm nay

Chỉ là hạt bụi của ngày mai sau.

Loài người loài vật giống nhau

Cùng chung bản thể nhiệm mầu hóa công

Nhưng trong nhất thể đại đồng

Vẫn mang nét tiểu dị trong hành trình.

Loài người thì có Văn Minh

Tỏ từ văn hóa nhân sinh tuyệt vời

Loài vật chi có nụ cười

              Chi có suối lệ biển khơi nồng nàn.

 

 

Từ văn hóa của nhân gian

Dựng nên Văn Hiến những ngàn ngàn năm

Chở nguyên vẹn ánh trăng rằm

Để cho thơ có mặt trăng, mặt trời.

 Vậy, Văn Hóa: ấy, con người

Vậy, Văn Minh: ấy, mặt trời nhân sinh

Vậy, Văn Hiến: ấy, công trình

Thi thư lễ nhạc dựng kinh điển vàng

Ngoài tính Nhân Bản rõ ràng

           Văn Hóa còn tính không gian rạch ròi

 

 

Tùy theo mỗi chốn mỗi nơi

Mỗi quê hương, mỗi đất trời, non sông

Mà văn hóa dựng kỳ công

Với những nét đặc thù không tiệp màu

Chẳng hề lẫn lộn vàng thau

Để cho trái đất muôn màu đẹp tươi

Ngoài tính không gian tuyệt vời

Văn Hóacòn đậm tính thời gian kia

Vì trong Văn Hóa diệu kỳ

           Luôn có những bước chân đi tới hoài

 

Như dòng sông – tới tương lai

Tạo nên nét đặc thù loài - Người – Ta

Xác muôn sinh vật gần xa

Xưa nay chẳng đổi thay qua một lần

Những con chim hót điệu thần

Từ ngàn xưa vẫn mỗi vần điệu thôi

Loài người, từ thuở “ thôi nôi”

Đến nay đã đổi bao mươi giọng đàn

Tạo nên bao vẻ huy hoàng

      Trong bao sinh hoạt nhân gian - công trình …

 

Này thơ này nhạc xinh xinh

Vẫn phi vật thể tâm linh tuyệt vời

Này lầu, này các tươi mươi

Những kỳ công vật thể ngời trăng sao

Trăm muôn biểu tượng dồi dào

Hiện thân văn hóa thanh cao tánh người.

Tánh kia bản thiện đời đời

Phát huy muôn vẻ giữa thời – không – gian

Đặc thù nhân bản vẻ vang

           Vươn lên sinh bản ngày càng vô song.

 

 

 

 

 

 

 

Đẹp sao văn hóa đại đồng

Những giọt lệ cùng mặn,

những giọt máu cùng hồng”ai ơi!

Việt Nam: văn hóa con người

Từng thời, từng buổi, từng nơi vươn mình

Ngọt ngào lời “Tam Tự Kinh”  

Người chưng xưa tính vốn lành ” - đúng không?

Bốn phương Nam Bắc đại đồng

Con người cùng một tổ tông nhất bào

Như nguồn suối tự trời cao

           Bản thân vốn sạch  như  sao trên trời

 

Chẳng qua tập nhiễm thói đời

Tính Tương Cận,Tập thời Tương Viễn mà!

Một niềm tin rất sâu xa

Nơi con người thật – trong – ta - mỗi người

Chính là đặc điểm tuyệt vời

Của Văn- Hóa – Sinh - Hoạt nơi Việt Thường

Nét ưu việt rất phi thường

Của nền “văn hóa Nam phương” chính là

Một Văn Hóa ẩn tinh hoa

             Văn Hóa nội liễm sâu xa âm thầm

 

Văn Hóa nội: lẫn vào tâm

Ứng thân bằng thái độ cần, liêm, minh

Thiên hạ viết những lời kinh

Việt Nam thực hiệnnghĩa kinh thánh hiền

Ấy là Văn Hóa y nguyên

Thể hiện bằng chính con tim – và bằng

Nếp sinh hoạt đẹp vầng trăng

Ánh Nga xuân hạ – Gương Hằng thu đông

Người ta lấp biển đào sông

          Người ta đắp những tượng đồng thật to

 

 

 

 

Thằng Bờm có cái quạt mo

Chín trâu không đổi mười bò không trao

“ Một nắm xôi ”quá ngọt ngào

Chở tròn tri túc, tự hào, vô vi

“ Làm chi cũng chẳng làm chi

   Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao”(1).

Bằng niềm tín ngưỡng thanh cao

Hướng về nhất thể ngọt ngào sắc không

Vào chơi trong cõi mênh mông

               Nhẹ xem như sợi lông hồng cái ta

 

Cân phân giữa cái dung hòa

Bên là Thái Lĩnh, bên là Hồng Mao

Nặng thì chín chữ cù lao

Công cha nghĩa mẹ xiết bao biển trời

Ai sinh ta được làm người

Biển Đông khuya sớm đầy vơi ngọn triều

Thương con, tình mẹ bao nhiêu

Thương con, dạy một chữ yêu nằm lòng.

Nguồn đâu cho nước mênh mông

             Cội đâu cho cánh hoa hồng nở ra

 

Trăm nghìn thao thức vì ta

Trăm nghìn trao trút như là biển Đông

Bây giờ đứng giữa non sông

Có đây, sao lại dám không cho đành ?

Non cao ơi ! Chữ hiếu tình

Biển sâu ơi ! Chữ trung trinh nước nhà

Trăm năm trong cõi người ta

Chữ trung chữ hiếu ấy là đạo nhân

Và, Văn Hóa Việt tự thân

        Chính nhờ nếp sống tinh thần hiếu trung

 

 

 

 

 

 

 

 

Người đời muôn sự của chung

Hơn nhau một tiếng anh hùng(2).Nhớ chăng ?

Câu ca dao đã nói rằng …

Là anh hùng kẻ sống bằng cái tâm

Cái tâm trí dũng cái tâm

Từ bi. Thể hiện cái tầm thiện lương.

Dẫu không đình đám khoa trương

Không những vật thể biểu dương ngời ngời

Nhưng văn hóa Việt ngàn đời

             Vẫn long lanh một nụ cười hoa Sen

 

Trong đầm gì đẹp bằng Sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng

Nhụy vàng bông trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn(3).

Dù cho trải vạn gông cùm

Trải trăm thử thách trải muôn đọa đày

Dù cho trải mấy đắng cay

Việt Nam vẫn giữ lòng này sạch trong

Như lời kinh Phật vỡ lòng

      Như lời Thánh Khổng tỏ trong đạo thường

 

 

Như lời Kinh Lão biểu dương

Việt Nam văn hóa thiêng liêng tự là

Dù không thừa điệu cầm ca

Dù không dư những tháp ngà văn chương

Dù chưa lập thuyết, lập ngôn

Dù nghèo lăng tẩm, miếu đường uy nghi

Dù khoa học chửa quang huy

Dù kinh tế chửa phương phi kịp người

Nhưng, trong sinh hoạt cuộc đời

           Văn hóa Việt rõ tuyệt vời thăng hoa

 

 

 

Với tình người thực thiết tha

Với tính người thật đậm đà uyên nguyên

Thực tâm kinh, thực thánh hiền

Thực nhân bản, thực tâm truyền ấn tâm

Như con cá gáy, tự thân

Đã mang sẵn: cái tính Rồng : Việt Nam

Tự bốn ngàn năm gian nan

Bốn ngàn năm lửa thử vàng lâm li.

Bốn ngàn năm hùng sử thi

          Đã hàm tiếu một hoa Quì Hướng Dương

 

Điều kỳ diệu rất Đông Phương

Là tự thân đóa Hướng Dương hoa này

Vừa theo hướng Mặt Trời, xoay

Mà vừa tự tỏa ánh ngày tự tâm !

Đóa Nhật Quì tự thân tỏa sáng

Một vầng dương sáng lạn ! Ô hay !

Sao như “ phép lạ” thế này ?

Có chi đâu ! Mặt – Mũi – Xưa – Nay là…

Hoa Quì hướng nhật thiết tha

            Đồng thời, chính tự nó là vầng đông

 

Vì chung nhất thể đại đồng

Ấy điều kỳ diệu phương Đông Việt Thường

Không hai, không một: tỏ tường !

Bất Nhất, Bất Nhị: cột rường xưa nay !

Trong hai kia có một này

Trong một đó có hai đây: hợp hòa …

Một, hai: từ đạo mà ra

Một là Thái Cực, hai là Lưỡng Nghi

Trong cơ Tứ Tượng diệu kỳ

         Có thái ( lớn) thiếu( nhỏ) đi song hành

 

 

 

 

 

 

 

Song song bên hoại bên thành

Thái Dương: hoại, Thái Âm: thành, vần xoay…

Bất Thường, Bất Đoạn xưa nay

Bất Tăng, Bất Giảm : vơi đầy âm dương

Một khi lẽ đạo tỏ tường

Tâm linh Việt vượt Đoạn Trường Tân Thanh

Mà vươn lên cõi trời xanh

Tỏa lan trong nếp sống lành như thơ

Dựng nhân trí dũng cõi bờ

              Phô chân thiện mỹ bút tờ ca dao

 

Non cao ai đắp nên cao

Sông sâu ai bới ai đào mà sâu(4)

Tung hô đạo pháp nhiệm mầu

Vai mang nhật nguyệt Á Châu lên đàng

Một Trung một Hiếu rõ ràng

Một Nhân một Nghĩa vẻ vang luân thường

“ Thấy ai đói rét thì thương

Rét thường cho mặc, đói thường cho ăn ”(5)

Tre tàn rồi lại có măng:

         Lương tri tại ngã lương năng cộng đồng

 

Một uy một dũng tang bồng

Bốn nghìn năm: một chiến công trường kỳ

Này gương Phù Đổng anh nhi

Phá giặc xong, lặng lẽ về “cố hương

Này Đinh Bộ Lĩnh ngoan cường

Phất cờ lau, dựng kỷ cương sơn hà.

Mở đời tự chủ nguy nga

Phát huy văn hóa, thăng hoa Việt tình

Đinh truyền qua Lý quang vinh

      Với Lý Thường Kiệt - Bắc chinh hai lần

 

 

 

 

Namquân hiển rộng oai thần

Đốt  Ung Châu, vỡ mặt quân tham tàn

Lý qua Trần, bước vinh quang

Vô Vi Văn Hóa lại càng phát huy

Vô vi, vô ý diệu kỳ

Phá Nguyên quân, đọ dũng uy chính tà

Thần vô úy tự đâu ra

Phải chăng từ cõi lòng ta trong lành

Không tham lợi, chẳng tham danh

 Không chấp Ngã - Pháp - Tử Sanh - Đoạn trường

 

 

Tuyệt vời tuệ kiếm kim cương

Diệt tan tám loại ma vương hung tàn

Hải Đông tâm sự ngàn vàng :

Vua nhân , tôi dũng đôi hàng “sử thi”

Vua rằng: “ Giặc mạnh dường kia”

“ hay ta hàng để yên bề cho dân?”

Tôi rằng “ Bệ Hạ chí nhân !”

Muốn hàng “ Hãy chém đầu thần trước đi!”

Thế rồi vũ lộng thần uy

      Việt Nam kháng chiến trường kỳ nên công

 

Bao phen đuổi giặc Nguyên Mông

Viết lên trang sử vô song địa cầu

Vó ngựa Mông Cổ tới đâu

Nơi ấy chỉ còn đầu lâu hoang tàn

Chỉ duy nhất có Nam Bang

Lấy nhân trí dũng hiên ngang đối đầu

Quét Nguyên Mông sạch làu làu

Viết nên trang sử công đầu cổ kim

Xưa nay sách vở thánh hiền

      Dạy Tam Cương, lại dạy thêm Ngũ Thường

 

 

 

 

 

 

 

 

Phật truyền đạo pháp kim cương

Lão truyền đạo đức kinh chương nhiệm mầu

Lập ngôn, lập thuyết muôn câu

 Việt Nam gian khó lấy đâu thì giờ

Lấy đâu phương tiện Hồng Cơ

Vậy, lấy hiện thực làm tờ ca dao

 “Lên non cho biết non cao

Nuôi con cho biết công lao mẹ hiền” (6)

Lấy ngay cuộc sống tinh tuyền

 

             Để thực hiện đạo thánh hiền lưu phương

Làm cho rõ mặt phi thường

Bằng lối “vô pháp”, bằng đường “vô môn

Bằng lời “ lục bát vô ngôn

Lá tre lá trúc, gió Nồm gió Nam

Tuyệt vời văn hóa Việt Nam

Phi không phi sắc mở trang sử hồng

Chữ rằng sắc tức thị không

Không tức thị sắc- cõi bồng tang thơ

Mỗi trang sử một vần thơ

          Nghìn trang huyết sử, một tờ tâm kinh

 

Chữ trung, chữ hiếu, chữ tình

Ba chữ gói một nòi tình Văn Lang

Mười tám đời vua Hùng Vương

Mỗi đời là một bản đàn nước mây

Những Chử Đồng Tử thơ ngây

Vùi thân trong cát, ai hay duyên trời

Những anh Trương Chi tuyệt vời

Người thời thật xấu, hát thời thật hay

Tương tư sao đẹp như vầy

         Thác rồi, tim hóa ngọc này trắng trong

 

 

 

Những Bánh Dày những Bánh Chưng

Văn hóa ẩm thực biểu trưng đất trời

Hiện thân đạo lý tốt tươi,

Ơn cha nghĩa mẹ đời đời chẳng quên

Tam tài đắp móng xây nền

Có trời có đất mới nên con người

Ví như mỗi kể ngươi thôi

Thì văn minh nọ ôi thôi còn gì!

Có trời- đạo lý huyền vi

           Có đất-vạn vật đồng quy một nguồn

 

Có trời- mới có thiên lương

Có đất mới có tình thương đại đồng

Thương nhau- thương núi thương sông

Thương nhau - thương ruộng thương đồng - thương quê

Cả và trái đất xum xuê

Là chung một tổ ấm đề huề vui

Mười tám đời Vua Hùng ơi!

Mỗi đời là một nụ cười Tam Nguyên

Ba Vì còn tích Tản Viên

     Sơn Tinh với Thủy Tinh huyền thoại xưa...

 

 

Hai thần tranh một “Nàng Thơ”

Ai đi trước sẽ được Vua gã nàng

Sơn Tinh đến trước được nàng

Thủy Tinh chậm bước, mưu toan phục thù

Phép thần vũ hoán phong hô

Dâng cơn hồng thủy tuyệt mù mây xanh

Sơn Tinh đáng mặt đàn anh

Nước bao cao, núi  dướn mình cao hơn !

Cuối cùng nước cũng thua non !

           Để cho Việt tộc trường tồn thiên thu !

 

 

 

 

 

 

 

 

Tuyệt vời Lạc Việt binh thư :

Lấy trường thắng đoản, nhu mà thắng cang

Lấy tĩnh chế động mới an

Như Sơn Tinh vậy: an nhàn chiến công!

Cây kia ăn quả ai trồng

Sông kia uống nước hỏi dòng từ đâu?

Hùng Vương nhớ nghĩa cao sâu

Kinh Dương Vương mở trang đầu sử xanh

Lạc Long Quân đấng cha lành

       Cưới Âu Cơ - Mẹ sanh thành trăm con

 

Nhân kia quả nọ vuông tròn

Thiên thu một tấm lòng son Việt Thường

Lạc Long Quân: Hùng Hiền Vương

Sau Hùng Quế, nối tông đường: Hùng Hoa

Hùng Hi nối nghiệp vua cha

Hùng Hồn – Vĩ …Chiêu… thêm ba đời Hùng

Sang đời Hùng Định - Uy… phong

Hùng Trinh, Hùng Vũ - sang Hùng Việt Vương

Hùng Anh, Hùng Triệu kiên cường…

 …Tạo, …Nghi, … Duệ, …Thập Bát Vương kế truyền

 

Đời nào đời nấy như nhiên

Một tâm bản thiện Rồng Tiên, Tiên Rồng

 “Truyện Trầu Cau” một tấm lòng

Hai anh em nọ yêu chung một nàng

Người anh cưới được hồng nhan

Người  em buồn bã đi lang thang đời.

Qua rồi ngày một ngày hai

Một hôm dừng lại, mệt nhoài, đứt hơi

Hồn đau nhẹ thoát về trời

            Còn thân xác hoá đá,  phơi sâu rừng

 

 

 

 

Bên bờ con suối rưng rưng

Tuôn tuôn dòng lệ không ngừng tuôn tuôn…

Bấy giờ cốt nhục tình thương

Người anh buồn bã lên đường tìm em

Trải bao sương nắng ngày đêm

Một hôm dừng bước ngồi trên tảng - đá - người

Thế rồi, hơi thở ngừng hơi

Thế rồi, cái chết tới nơi. Thế rồi

Xác kia trên tảng đá người

               Hóa cây một gốc vươn trời mà cao

 

Bàn tay phảy gió rì rào

Như niềm vẫy gọi thuở nào tìm em

Ba người, hai đã qui tiên

Còn mỗi vợ hiền (cũng chị hiền) kia

Lại thêm định mệnh sẵn đề

Lại nối bước khắp sơn khê đi tìm

Để rồi sau bao ngày đêm

Lại ngã xuống giữa rừng thiêng - cạnh chàng

Thác rồi, hóa sợi dây oan

  Dây trầu thiếp quấn quanh chàng : thân cau

 

Thế là từ đó về sau

Vôi, Trầu, Cau quấn quít nhau vạn đời

Hóa nên nghi lễ tuyệt vời

Của văn hóa Việt thắm tươi nghĩa tình

Những trang sử đẹp quê mình

Mỗi trang sư, một lời kinh nhiệm màu

Chữ Nôm khởi dựng công đầu

Thiết tha giọng mẹ Giao Châu Việt thường

Hàn Thuyên ngôn ngữ mười thương

         Câu lục câu bát vấn vương nghĩa tình

 

 

 

 

 

 

 

 

Khởi đầu, cước vận đoan trinh

 Nói theo, yêu vận dệt xinh điệu vần

Buông lơi, Cước vận thanh tân

Cước lục, cước bát bình quân khoan hòa

“ Trăm năm trong cõi người ta”

“Mua vui cũng được một vài trống canh” ( 7 )

Thơ Nôm lục bát riêng dành

Sợi tơ quấn quít sử xanh nghìn trùng

Từ vô thủy đến vô chung

         Nhịp tao nôi mẹ nhịp trùng trùng dương

 

Nét môi mẹ vẽ thiên đường

Tao nôi mẹ nhịp tình thương thái hòa

Việt Nam từ dựng sơn hà

Đến nay, cho đến cả và thiên thu

Vẫn còn quê mẹ lời ru

Câu thơ lục bát vân du chín tầng

Đã đành “ không, sắc”  phù vân

Nhưng trong không sắc có vần điệu thương

Cho nên không sắc diệu thường

           Và như thế, Việt Nam trường tại: thơ !

 

Ai về… nhớ vọng phu xưa

Người chinh phụ hóa đá chờ chinh phu

Chờ mà hóa đá được ru ?

Họa chăng tiết hạnh thiên thu quê mình

Một yêu, yêu trọn khối tình

Một thương, thương trọn tiết trinh ba đời

Những trang Nam Tử Hán ơi

Những trang NamTử Hán người Việt Nam.

Làm trai đứng giữa vinh quang

          Nhớ chăng tiết phụ đoạn tràng cô đơn

 

 

Ai kia tỏ mặt phi thường

Đằng sau ai, có một nguồn yêu thương

Một nguồn thơ đẹp mỹ miều

Một nguồn hương lửa ấm triều tâm linh

Một nguồn nghị lực nhân sinh

Tạo nên sức mạnh đăng trình vẻ vang

Đằng sau một sự nghiệp chàng

Có hình bóng của một nàng -  là em

Tâm tình ấy – đóa hoa sen

           Vươn lên trong cõi bùn đen lạnh buồn

 

Làm sao trở lại cội nguồn

“ Nhân chi sơ, tánh bản thiện ”Hồn Hậu xưa

Để nằm ngơi dưới giàn dưa

Mà nghe từng hạt sương mưa ngọt ngào

Trở về nguồn cội ca dao

Muốn tắm mát thì lên ngọn sông Đào” ban sơ

Trái Sim chín tự bao giờ

Đói ăn một nửa, nửa chờ người thương

Làm sao trở bước trầm hương

            Mà nghe tiếng gọi thiên lương vỗ về

 

Năm xưa bên cội bồ đề

Còn nghe nửa sợi tóc thề em trao

Việt Nam Văn Hóaca dao

Việt Nam Văn Hóatâm giao tuyệt vời

Việt Nam Văn Hóacon người

Việt Nam Văn Hóanụ cười xưa nay

Việc Đời vay trả, trả vay

Niềm tin nhân quả xanh mây chín tầng

Vì chưng thiện chính là chân

            Mỹ chính là thiện… xoay vần ba ngôi

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Niềm tin nhân quả luân hồi

Niềm yêu nhân loại đất trời mênh mang

Chuyện xưa “ ăn khế trả vàng”

Chuyện xưa “ Tấm Cám” cưu mang Việt Thường

Tuyệt vời nghĩa sống tròn xinh

Nửa sống cho mình, nửa sống cho nhau

Hiếu Trung hai chữ trên đầu

Nghĩa Nhân hai chữ dãi dầu lòng son

“Một cây làm chẳng nên non

               Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.” (8)

 

Ơn dưỡng dục, đức cù lao

Tình dân tộc, nghĩa đồng bào tương lân

Một gương đoàn kết quân dân

Một cương lĩnh, một phương châm : vạn đời !

Chữ “ mình” đẹp lắm, ai ơi !

Vừa là ta, vừa là người – là nhau !

“ Trăm năm rồi có gì đâu

Chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh rì ”

Chữ rằng: Sinh ký tử quy

               Văn Hóa Việt lấy từ bi làm đầu

 

Coi toàn thế giới là “ nhau ”

Tuy hai là một – nên câu thái bình

Chuyện “ cây khế” mở phương trình:

Luật nhân quả dệt tròn xinh cuộc đời

Ở hiền ắt gặp lành thôi

Ở ác gặp dữ – tham thời phải thâm

Chuyện “ Tấm Cám ” cũng chung tầm

Con người phải sống bằng tâm nhân nghì

Chuyện Tấm Cám hay bài thi

            Bài thi đức hạnh đổ về Tây Phương

 

 

 

Hay bài thơ của thiên lương

Xinh quốc sắc, ngát thiên hương nhân tình

Cô Tấm mồ côi phận mình

Con chồng, mẹ ghẻ: cảnh tình xưa nay

Nhưng dù trăm đắng ngàn cay

Vẫn giữ một tấm lòng này sạch trong

Thế rồi, trải bấy long đong

Vẫn vươn lên giữa Long Vân hội đời

Người hiền ắt được hương trời

          Hiền thời gặp Bụt, lành thời gặp Tiên

 

Cuối cùng quả phúc đoàn viên

Một ngôi hoàng hậu đẹp như Châu Trần

Còn mụ dì ghẻ bất nhân

Lại cô em ghẻ – Cám – tâm vô nghì

Theo luật nhân quả huyền vi

Lưới trời lồng lộng – thưa thì có thưa

Song không để lọt bao giờ

Gieo gió gặt bão– cũng như ở hiền

Ắt là gặp hội thần tiên…

          Ôi Văn Hóa Việt đẹp thiên truyền kỳ

 

Đẹp trong từng lời cổ thi

Lời ca dao đẹp đôi vì Sâm Thương

Trong túi hành quân đường trường

Bốn ngàn năm – mỗi một chương quân hành

Bốn ngàn năm Chống để Thành

Bốn ngàn năm  Tri - bằng hành để Tri

Người ta đọc tụng Kinh Thi

Kinh Phật, Kinh Lão, lâm ly huyền đàm

Xinh ơi ! Văn Hóa Việt Nam

             Bốn ngàn năm để thơ làm mình chơi

 

 

 

 

 

 

 

 

Bốn ngàn năm đạo … tức đời

Trong từng hơi thở thơm hơi thở thiền

Tự thân vô úy nhãn tiền

Hy sinh vì nước chẳng phiền lụy ai

( Đâm đầu vào lỗ châu mai ! )

Tự thân vô ngã: vì người quên ta

Trên vì nước, dưới vì nhà

Vì, vì tất cả – vì ta yêu vì

Bốn ngàn năm pho sử thi

            Bốn ngàn năm ngọn đạo kỳ vàng son

 

“ Trăm năm tính cuộc vuông tròn

Phải dò cho thấu ngọn nguồn lạch sông ”

Từ ngọn nguồn của Tiên Long

Một tiên non cả, một rồng bể khơi

Văn Hóa Việt Nam ra đời

Với long lanh một nụ cười tương giao.

Cái tương giao rất ngọt ngào

Giữa Mai và Trúc giữa Dao và Quỳnh

Cái tương giao rất thủy tinh

              Giữa non và biển, giữa mình và ta

 

Cái tương giao rất thiết tha

Giữa nước và nhà, giữa đó và đây

Cái tương giao rất sâu dày

Giữa không và sắc, giữa ngày và đêm

Cái tương giao rất hiện tiền

Cái đương xứ tức chân huyền diệu thơ

Việt Nam Văn – Hóa – bây – giờ

Nụ cười Ca Diếp, bài thơ Lý Trần

Trải qua muôn dặm tử phần

        Vẫn long lanh bước Huyền Trân bi hùng

 

 

 

 

Những Tứ Bất Tử Nhị Nùng

Những Tứ Bất Tử đại hùng giang san

Những Tứ Bất Tử dân gian

Nơi nơi thể hiện đạo tràng từ bi

Những trang Hoạt Phật trung nghì

Những vị bồ tát sống vì bà con

Những con tim nó sắc son

Nó bảo phải lấy nước non làm đầu

Nó khuyên Bí phải thương Bầu

               Nó dạy bãi biển nương dâu ấy là

 

Cái như thị của Phật Bà

Vô thường, vô ngã khỏi qua huyền đàm

Nó là hiện thực nhân gian

Vì chung trời đất họ hàng với nhau

Vì chung bốn bể năm châu

Gẫm ra cũng một, có đâu khác loài

Lý mầu “ không một không hai”

Tuy hai, mà một – tuy ai, cũng mình

Việt Nam Văn Hóa văn minh

            Lấy ngay câu mở đầu kinh Kiều, là:

 

“ Trăm năm trong cõi người ta”

Đủ suy ra lý “ người – ta, ta - người”

Người ta sống ở trên đời

Ai ai cũng phải có người có ta

Đủ nhân duyên, đủ hợp hòa

Thì vô ngã mới hóa ra hữu tình

Trùng trùng duyên khởi vô minh

Ắt mới nên truyện, nên kinh Thúy Kiều

Người ta: gói một chữ yêu

      Chữ Nhân – Nhân ái – Nhiễu điều giá gương

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gồm chữ Nhân của đạo thường

Cộng thêm chữ Nhị là thương – thương người…

(Mình mà yêu mỗi mình thôi

Sao gọi Nhân được? Hỏi trời đất xem!)

Tâm kinh, đối trước ngọn đèn

Nghe trong ta nở tòa sen Tam Tài

Trời là một, đất là hai

Người là ba – với vạn loài chúng sinh

Thảy đều trong cõi tâm linh

        Cùng chung tánh thể quang minh Phật Đà

 

Nghĩa là cùng chung ruột rà

Ấy là nhận thức sâu xa Việt Thường

Mà từ đó có trầm hương

Mà từ đó có Đoạn Trường Tân Thanh

Mà từ đó có tinh anh

Của Văn Hóa Việt long lanh chín tầng

Trong từng hiện thực nhân dân

Từ Đinh Lê qua Lý Trần… xưa nay

Trải qua trăm đắng ngàn cay

         Trăm đọa ngàn đày trăm đớn ngàn đau

 

Trải qua ngàn cuộc bể dâu

Việt Namvẫn ngẩng cao đầu đứng lên

Dựa vào nội lực vô biên

Là niềm tin ở trái tim Con Người

Điều này chẳng tự Tiếng, Lời

Điều này chẳng tự Chữ nơi kinh truyền

Điều này tự cái như nhiên

Tự cái hiện tiền của cuộc nhân sinh

Nó làm cho đẹp thêm xinh

        Nó làm cho Nghĩa thêm Tình. Làm cho.

 

 

 

Chở bao nhiêu Đạo, con đò

Một kho gió biếc, một kho trăng vàng

“ Ơi cô tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi ? ” ( 9 )

Câu ca dao tròn Kinh Thi

Câu lục bát vẹn hài nhi thiên đường

Việt Nam bản lĩnh phi thường

Dựa nơi tự tánh của bình thường tâm

Bốn ngàn năm: một huyền âm

   Bốn ngàn năm: nhứt huyền cầm thủy chung

 

Có hai cái Một bi hùng

Tạo nên hình ảnh nghìn trùng Văn Lang

Một là: một sợi dây đàn

Chở chuyên hồn Nước, mênh mang Đàn Bầu

Hai là một Búp Sen Nâu

Ấy Chùa Một Cột – nhiệm mầu nhất nguyên

Dù Nam dù Bắc đôi miền

Đôi miền chung một con tim Lạc Hồng

Việt Nam: Văn Hóa trống đồng

      Từ trung tâm, vọng thu không nghìn đời     

 

Từ trung tâmcủa“mặt trời ”

Của thiên lương, của nụ cười nhứt như

Tỏa mười phương một Vô Dư

Tỏa mười phương một Đại Từ Đại Bi

Ơi đôi cánh Lạc huyền vi

Bay về tận cõi lưu ly Tinh Thần

Tiếng trống đồng của Vạn Xuân

Ngân nga tiếng mẹ mười phân vẹn mười

Bốn nghìn năm tổ quốc ơi !

       Bên trong trường phục tiếng lời Âu Cơ

 

 

 

 

 

 

 

 

Tự thân chiếc trống đồng xưa

Đã mang thông điệp bài thơ mặt trời

Duy, Tuệ, Thị, Nghiệp toát vời

( Trí tuệ ấy sự nghiệp người Việt Nam ).

Mặc ai mưu sự giàu sang

Mặc ai mưu sự vinh quang thánh thần

Việt Nam tự ngã tinh thần

Nỗi đau đáu một chữ chân bên lòng

Cho dù đất lở trời long

           Cho dù sông hóa nên đồng. Dù cho

 

Phận nghèo bữa đói bữa no

Chén cơm rau, dĩa mắm kho cũng đành

Trong tâm dân tộc trong lành

Vẫn long lanh một bóng hình chân như

Niềm thao thức mãi thiên thu

Ta từ đâu tới ? Lại từ đâu ra ? …

Bản lai diện mụclà? là?

Hỡi ơi, quả trứng ? Con gà?Từ đâu!..

Ngàn đời bi thống nỗi đau

             Cho nên “ Duy Tuệ” là câu hỏi đời !

 

Là câu hỏi vạn trùng khơi

Lấp biển che trời, dấu hỏi uyên nguyên

Việt Nam dân tộc Rồng Tiên

Lấy câu hỏi lớn làm giềng mối tâm

Trong ba mối của tinh thần:

Chân, Thiện, Mỹ – Nguyện lấy chân làm đầu

Dù cho bãi biển nương dâu

Chân lý vẫn một - xưa sau vẫn là.

Chân là chân tướng đời ta

            Chân là chân thể sơn hà Càn Khôn

 

 

 

 

Chân là tinh túy tâm hồn

Bản lai diện mục tỏ khuôn trăng rằm.

Có chân, thiện ắt tới thăm

Và mỹ ắt cũng thuận dằm bờ kia

Trăm năm sống gởi thác về

Duy sao gặp được chính quê hương mình.

Chân là cứu cánh nhân sinh

“ Nhân thị tới thắng ”: ấy Kinh Đại Thừa

Làm “Trời”, làm “ Thánh”, làm “Vua

        Vẫn không hơn được kiếp tu làm Người.

 

Cõi đời nước mắt nụ cười

Có nước mắt – để nụ cười long lanh

Trong đầm ví chẳng bùn tanh

Lấy chi sen kết tinh thành đài thơm.

Từ trong tuyệt vọng cô đơn

Con người vượt cõi đoạn trường, vươn lên

Để chứng quả Phật hiện tiền

Cho nên Khổ Đế mở duyên Phật Đà.

Khổ Đế ấy Đạo Đế mà !

          Khổ, Tập, Diệt, Đạo cũng là một thôi

 

Bản lai diện mục con người

Chính là tịch chiếu đời đời nhủ tâm.

Việt Nam Văn Hóaduy chân

Duy Tuệ Thị Nghiệpmười phân vẹn mười

Văn Lang từ độ vào đời

Đã long lanh một mặt trời chân như.

Trên mặt trống đồng thiên thu

Mãi long lanh ánh tuệ từ triêu dương

Quê ta nhật nguyệt soi đường

        Nhật nguyệt từ chính tâm hồn Văn Lang.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khắp nơi trong cõi giang san

Văn Hóa Việttỏa nghìn trang đạo, đời

Trong từng giọt lệ nụ cười

Nghe Văn Hóa Việt ngời ngời văn minh.

Chẳng riêng Văn Hóa Triều Đình

Bốn phương Văn Hóa gia đình phân phô

Chẳng riêng Văn Hóa Cơ Đồ

Trong từng hơi thở hoa Mua – hoa rừng.

Trong từng mí lệ rưng rưng

       Trong từng tiếng suối ngập ngừng non xa

 

Thảy đều thể hiện, ngân nga

Khúc tâm ca của quê ta Việt Thường.

“ Nhiễu điều phủ lấy giá gương” (10)

Quê ta lấy chữ quê hương làm đầu

Thương người, thương vật, thương nhau

Thương nghìn trước, thương nghìn sau - vô cùng.

“ Người đời muôn sự của chung

 Hơn nhau những tiếng anh hùng mà thôi ”(11)

Sống cho đạo, sống cho đời

           Quên mình vì nghĩa – ấy người hùng anh.

 

Cây xanh thì lá cũng xanh

Cha mẹ hiền lành để phúc cho con ”(12)

Một niềm tin đẹp vuông tròn

Luật nhân quả – nguyện sắt son công bình.

Trên cành hạt hạt sương trinh

Trên đời, tấm tấm gương lành trong veo

“ Rung rinh nước chảy qua đèo ”

Một bài thơ đẹp hai chiều sắc không.

Việt Nam, tâm thức Tiên Rồng

      Việt Nam, tâm thức sắc không tuyệt vời

 

 

 

Trên tâm thức ấy, con – người

Việt-Namdựng một cuộc đời thanh cao.

Vừa tích cực, vừa tiêu dao

Vừa khiêm cung, vừa tự hào, trung kiên

Những chàng Từ Thức lên tiên

Ba năm tiên cảnh bằng nguyên cuộc đời.

Những giấc Hoàng Lương ạ ời

Thoáng qua đôi nhịp tao nôi hững hờ

Vì chân là một giấc mơ

            Nên ta sao chẳng dệt thơ cho vần.

 

Việt Nam từ thuở Vạn Xuân

Qua Đinh, qua Lý, qua Trần, qua Lê …

Luôn dệt bài thơ không đề

Bài thơ “ sống gởi thác về” trong veo.

Bài thơ: “ … nước chảy qua đèo

Ngựađua dưới biển, thuyền chèo trên non( 13 )

Bài thơ: “ …  biển cạn non mòn

Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ .”( 14 )

Bài thơ: “…  cõi mộng đầy mơ

              Cõi sinh hóa rất xinh tơ trúc này”

 

Lại cùng em lại cầm tay

Mà nghe ngón bút măng đầy ánh trăng .”

Bài thơ: “…  ngón trỏ hay chăng ?

Thì trăng kia vẫn là trăng rạng ngời ”( 15 )

Việt Nam Văn Hóatuyệt vời

Cứ đi những bước rong chơi Việt Thường.

Đi từng bước một thiên lương

Đi một bước một trầm hương, hương trầm

Đi từng bước một tri âm

    Thì ra NHỮNG BƯỚC VỀ TÂM. Vạn đời !

 

Xong đêm Rằm tháng 6 năm Mậu Tý 

Huỳnh Uy Dũng

 

 

 

 

PHÁP SỐ TÂM LINH

 

Nhất bào bách noãn Mẹ Âu Cơ

Nhất phiến đan tâm thắm bút tờ

Nhất niệm thông thiên khai Lạc Việt

Nhất lao vĩnh dật Triệu Hùng Cơ.

 

Nhất công vạn đức ngời non nước

Nhất liễu thiên minh rạng cõi bờ

“Nhất Dĩ Quán Chi” ... tròn phận sự

Nhất phương Lạc Cảnh đẹp hồn thơ

***

Nhị Thập Bát TúTượng Càn Khôn

Lại tượng sơn hà xã tắc luôn,

Thành bại thịnh suy muôn biến dịch

Nhân sinh thiên hạ lẽ sinh tồn

 

Nhị Huyền một sợi võ uy nghi

Một sợi văn- yểu điệu thầm thì,

Hai sợi như hai nửa giọt nước

Tìm về nhau nhất thể đồng quy

 

Nhị nguyên giọt nước tách làm hai

Để nửa này thương nửa kia hoài

Như tóc mai sợi dài sợi vắn,

Sao Hôm rầu rĩ nhớ Sao Mai

                                                                                         

Nhị Nghi từ Thái Cực mà sinh

Hai vế âm dương một khối tình

Trong nỗi chia hai trầm thống nọ

Mà muôn vàn thống thiết tâm kinh

***

 

Tam cương: Ba mối của nhân luân

Quân phải ra quân, thần phải thần

Sư phải ra sư, phụ ra phụ

Nhân sinh ắt vẹn vẻ mười phân

 

Tam giáo: Phật- Nho- Lão hợp hòa

Giúp đời thuận bước nẻo vào, ra

Xưa nay xuất xứthường hai lối

Một lối kinh bang tế thế. Và …

 

Tam hữu tuế hàn: Tùng, Cúc, Mai

Ba cây chịu lạnh giữa đêm dài

Kết duyên bầu bạn tam quân tử

Phản nại sương băng tuyết ngạo hoài

 

Tam thiên: dời chỗ ở ba phen

Phép dạy con xưa thật chẳng hèn

Xã hội – Con người: tương ảnh hưởng

Đỏ thì son đỏ, mực thì đen

 

Tam vô tư: lượng cả trùng khơi

Nhật nguyệt vô tư chiếu cõi đời

Trời cứ vô tư che thế giới

Đất cứ vô tư chở vạn loài chơi

*****

Tứ bất tử: Phật - Thánh - Thần – Tiên

Lại thêm tứ bất tử: Nhân hiền

Cạnh bên Tứ Diệu Đế vi diệu

Tứ tứ ngân nga Thập Lục Huyền

******

Ngũ Giới Tam Quy đẹp mối rường

Ngũ Âm thêm đẹp ý Cung Thương

Ngũ Hành Kim – Mộc- Thủy- Hỏa- Thổ

Ngũ Phúc lâm môn đẹp Việt Thường

 

Ngũ Phụng tề phi ngời Bích Lạc

Ngũ Long triều nguyệt sáng Thiên Chương

Ngũ Thường Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín

Cửu Ngũ Nam Thành tượng Đế Vương

 

 

Lục Vị sáu hào của Dịch Kinh

Tượng trưng ba đạo cõi nhân sinh

Âm dương: Thiên Đạo; Cương nhu: Địa

Nhân nghĩa là nhân đạo hữu tình

 

Lục Tặc: Sáu tên giặc quậy đời

Sắc Thanh Hương Vị Xúc Pháp ơi!

Vì mi mà thế gian đau khổ

Không trái tim nào được thảnh thơi

 

Lục Bát: Bài thơ của mẹ hiền

Là hơi thở mẹ ấm Rồng Tiên

Tiệt nhiên định phận là như vậy

Giọng mẹ đầy vơi khúc Độc Huyền

*******

Thất tình: mừng, giận, sợ, yêu, thương,

Ghét muốn bao nhiêu nỗi đoạn trường

Muốn đến bờ kia-bờ hạnh phúc

Phải làm chủ bảy mối tai ương

 

Thất bảo: gồm San Hô,Mã Não

Xa Cừ, Hổ Phách lại Kim ,Ngân,

Lưu Ly lấp lánh Bồ Đào Tử

Diễm lệ Trân Châu điểm cõi trần

 

Thất diệu:gồm đôi vầng Nhật Nguyệt

Cộng với năm sao tượng Ngũ Hành

Sao Mộc, Sao Kim, Sao Thủy, Hỏa

Hợp cùng Sao Thổ độ nhân sanh

 

Thất Tịch đêm mùng bảy tháng bảy

Là đêm Chức Nữ gặp Ngưu Lang

Một đêm ngần ấy đêm xa cách

Vui mãi đêm nay thiếp gặp chàng

 

Thất thất nhân lên bốn chín lần

Ba cấp Vũ Môn: cá hóa rồng.

Qua bốn chín lần vàng thử lửa

Qua rồi đời mở kỷ nguyên xuân

********

Bát phong là tám gió thày lay

Lợi Suy Hủy Dự Xưng Cơ  này

Cộng cùng Khổ Lạc thày lay thổi

Làm cõi lòng ta động tối ngày

 

Bát khổ gồm: Sinh, Lão, Bệnh, Tử

Cầu bất đắc, ái ly biệt: sầu!

Thêm oán tắng hội càng thêm khổ

Ngũ ấm xí thịnh: khổ ngàn thâu!

 

Bát vị Kim Cương: tám Bồ Tát

Bát Nhã: trí tuệ tới bờ kia

Bát Quái: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn

Ly, Khôn, Đoàitừ thái cực kia

 

Bát bất gồm: Bất Sanh, Bất Diệt

Bất Thường, Bất Đoạn vốn như như.

Tiếp theo l Bất Nhứt, Bất Nhị,

Bất Lai, Bất Khứ… đạo huyền hư

 

Bát kia vừa đục lại vừa trong.

Trong đục buồn vui cũng tại lòng

Hễ cứ hồi đầu là đáo ngạn

Ô kìa! Bát Chánh Đạo thong dong!

*********

“Cửu cửu Càn Khôn dĩ định” rày

Cửu Chân một dải cõi Rồng bay

Cửu Kinh thực hiện ngời sinh hoạt

Cửu Nghĩa lâm li tỏ mặt mày

 

“Cửu Phẩm Liên Hoa vi phụ mẫu”

Cửu Thiên Huỳnh Đạo phổ Đông Tây

Cửu Chưng, Cửu Sái nên công nghiệp

Cửu Tự Cù Lao khéo trọn đầy

**********

Thập Can: Giáp, ẤT, Bính, Đinh, Mậu

Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí, tuyệt vời!

Tất cả đời người, đời vạn vật

Vẽ tròn trong một NhịpTao Nôi

 

Thập giới bao gồm: Sát, Đạo, Dâm,

Vọng, Ỷ, Ác, Lưỡng, Tham, si, Sân…

Thập Mục Thập Thủ: mười con mắt

Mười ngón tay: Nhìn-Trỏ-Lương-Tâm

 

Thập nghĩa: Từ- Hiếu- Lương- Thể- Nghĩa

Thinh, Tuệ, Thuần, Nhân, Trung, vẹn toàn!

Người mà đủ đức mười mươi thế

Hiền thánh xưa rày hiển thánh chăng ?

 

Thập niên thực môc kế nào hơn

Cái kế trồng cây hưởng lộc trường

Thập Lục Huyền đàn ai thánh thoát

Nghe hồn cao nhã của Đông Phương

 

                                            Cẩn bút

                                               Huỳnh Uy Dũng

 

 

 

 

Chú thích:

01.Xe Quay: bánh xe luân hồi

02.Tiệp màu: màu sắc hợp với nhau tạo nên sự hài hòa.

03.Thơ Phan Khôi.

04. Chín chữ cù lao: : SINH ( cha mẹ sinh ra ta), TRƯỞNG ( nuôi ta khôn lớn), SÚC ( cho bú),CÚC (nuôi dưỡng ta) , DỤC ( dạy dỗ ta) , PHỦ (vỗ về, an ủi , chăm sóc ta) , CỐ (trông nom , để ý nhìn ngó ta) , PHỤC ( nuông chiều , lo cho ta từng chén cơm manh áo) , PHÚC ( che chở , bồng bế ta .)

Tất cả đều chỉ sự vất vả khó nhọc của mẹ cha nuôi ta khôn lớn.

05. ca dao.

06. ca dao.

07. Gông cùm: gông và cùm, dùng để chỉ ách áp bức nặng nề.

08. Uyên nguyên: nguồn cội.

09. Cá Gáy: cá chép( hóa rồng)

10. Ca dao

11. Thơ Nguyễn Trãi-bài “Gia huấn ca”

12. Ung Châu: là một thành lũy kiên cố, do tướng Tô Giám cùng với 2.800 quân cương quyết cố thủ; để chờ quân các châu và quân triều đình tới tiếp cứu.

13. Vô vi: cứ để mọi việc theo tự nhiên( một thái độ xử thế và tư tưởng chính trị của đạo giáo ở Trung Quốc thời cổ)

14. Vô Úy: có dũng khí không hề sợ những đe dọa, nguy hiểm để làm những việc nên làm.

15. Tám loại ma vương: gọi tắt là bát ma, đó là tám thứ ma có thể sát hại, chướng ngại tám thứ ác độc đôc oán thù đối với chúng sanh: Phiền Não Ma, Ngũ Ấm Ma, Tử Ma, Tha Hóa Tự Tại Thiên Ma, Vô Thường Ma, Vô Lạc Ma, Vô Ngã Ma, Vô Tịnh Ma.

Trong Niết Bàn Kinh (quyển 24) nói rằng: có bát chủng ma là tám loại ma, là bọn oan gia của hàng bồ tát. Nếu tránh xa chúng ma đó tức lìa khỏi bọn oán địch vậy.

16. Tam Cương Ngũ Thường: tam cương:ba quan hệ cơ bản: vua –tôi, cha –con, vợ –chồng, trong hệ thống đạo đức của Nho Giáo. Ngũ thường: năm đức tính trong hệ thống đạo đức của Nho Giáo.

17. ca dao.

18. lưu phương: để lại tiếng thơm

19. Gió Nồm; gió dịu mát và ẩm ướt thổi từ phía đông nam tới Việt Nam, thường vào mùa hạ.

20. Huyền vi: có cái gì kì lạ ,  cao sâu , ngoài sức hiểu biết của con          người.

21. Đồng quy: cùng nhau gặp tại một điểm.

22. Đề huề: đông đủ vui vẻ và hòa thuận.

23. Tam nguyên: người đỗ đầu ba kì thi: thi hương thi hội và thi đình thời phong kiến.

24. Vũ hoán phong hô= hô phong hoán vũ: hô mây gọi gió.

25. Rướn mình: cố vươn thẳng mình ra phía trước hay vươn cao lên.

26. Chữ Nôm: chữ viết cổ của Tiếng Việt, dựa vào Chữ Hán mà đặt ra.

27. Hàn Thuyên: tên thật là Nguyễn Thuyên, làm tới chức Thượng thư Bộ Hình đưới thờiTrần Nhân TôngÔng là người làng Lai Hạ huyện Thanh Lâm châu Nam sách lộ Lạng Giang, nay là xã Lai Hạ huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh. Ông đỗ Tiến sĩ năm 1247.

Đại Việt sử ký toàn thư chép:Mùa thu năm Nhâm Ngọ 1282, khi quân Nguyên đang ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ 2; bấy giờ có cá sấu đến sông Lô. Vua sai Thuyên làm văn ném xuống sông, con cá sấu tự nhiên đi mất. Vua xem việc này giống như việc Hàn Dũ (đời nhà Đường - Trung Quốc), cho đổi họ là Hàn Thuyên.Hàn Thuyên giỏi thơ Nôm. Ông được xem là người phát triển, phổ biến chữ Nôm của Việt Nam. Ông là người đầu tiên dùng luật thơ Đường vào thơ Nôm, nên đời sau gọi thơ Nôm theo Đường luậtHàn luật.

28. Cước vận: vần ở cuối câu thơ.

29. Khoan hòa:  hiền hậu và có độ lượng.

30. Thơ Nguyễn Du- “Truyện Kiều.”

31. Nhịp tao nôi: nhịp võng

32. Đoạn tràng = đoạn trường: đau đớn , đau xót hết sức ( như đứt từng đoạn ruột.)

33. Nhân chi sơ tính bản thiện :

34. ca dao.

35. Sinh ký tử quy : sống gởi thác về.

36. Sâm Thương: sao sâm và sao thương( hai chòm sao trong nhị thập bát tú)

37. Lỗ châu mai ; lỗ ở thành công sự để bắn súng từ trong công sự ra ngoài.

38. Đạo kỳ; cờ đạo.

39. Nhị Nùng: núi Nùng, sông Nhị.

40. Tinh anh: phần tinh túy tốt đẹp nhất( thường nói về tinh thần)

41. thơ Bàng Bá Lân

42. Vô dư: không thừa

43. Đại từ đại bi: chỉ đức từ bi rộng lớn của Phật, Bồ Tát. Làm cho sung sướng đó là từ. Cứu vớt cho khỏi khổ đó là bi. “Đại từ làm cho hết thảy chúng sanh được vui, đại bi là cứu hết thảy chúng sanh khỏi khổ.” Đại từ Đại bi cùng với Đại Hỷ Đại Xả là bốn đức vô lượng( Tứ Vô Lượng Tâm) của chư Phật và chư Bồ Tát… Đại Từ Đại Bi cũng có nghĩa là Đấng Đại Từ Đại Bi dùng để tôn xưng Phật BồTát như: Nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm bồ tát.

44. Duy tuệ thị nghiệp: lấy trí tuệ làm sự nghiệp.

45. Bản lai diện mục: còn gọi là Bản Địa Phong Quang, Tự Kỉ Bổn Phận…là lời chỉ mức cực độ trong đạo pháp của Thiền Môn. Bản giác của Hiển giáo, bản sơ của Mật giáo đều không ngoài mức độ đó.

46. Nhân thị tối thắng: nhân là trội hơn hết, hơn tất cả.

47. Triêu dương: mặt trời lúc sáng sớm, hướng về phía mặt trời.

48. ca dao

49. ca dao

50. ca dao

51. Giấc Hoàng Lương:Đời nhà Đường có một nho sinh họ Lữ đi thi không đỗ. Trở về, dọc đường, vừa buồn lại vừa đói nên ghé vào một ngôi chùa con bên cạnh khu rừng, xin đỡ lòng. Chùa nghèo, nhà sư nấu kê thay gạo đãi khách.
Vì mệt mỏi nên họ Lữ nằm một lúc thì ngủ khò. Chàng thấy mình đã thi đỗ, được quan chức cao, nhà vua lại còn gả công chúa, phong cho chàng làm phò mã và cho đi trấn nhậm một nơi. Thật là vinh quang phú quý, không ai bằng. Nhưng khi đi đến nửa đường thì bỗng gặp quân giặc đỗ đến đánh. Lữ chống cự không lại. Lính hộ vệ bị giết. Xe kiệu bị đập phá tan tành. Chúng thộp cổ cả vợ chồng Lữ, đưa gươm kề họng... Lữ hoảng hốt, kêu lên một tiếng, giựt mình thức dậy mới biết là chiêm bao.
Mà giữa lúc ấy nồi kê cũng chưa chín.
Trong tác phẩm "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều, có câu:
Giấc Nam Kha khéo bất bình,
Bừng con mắt dậy, thấy mình tay không.
Trong bài "Lạc đường" của Tú Xương cũng có câu:
Giấc mộng Nam Kha khéo chập chờn,
Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, có câu:
Tiếng sen khẽ động giấc hòe.
Trong "Bích câu kỳ ngộ" cũng có câu:
Đèn thông khêu cạn, giấc hòe chưa an.
Cổ thi có câu:
Trăm năm một giấc kê vàng.
"Kê vàng" cũng gọi là gạo "hoàng lương", một thứ ngũ cốc nhỏ như cát, màu vàng. Nhà nghèo bên Tàu ngày xưa dùng kê để ăn thay gạo.
Trong "Đoạn trường tân thanh" có câu:Hoàng lương chợt tỉnh hồn mai.
"Giấc Nam Kha", "Giấc hòe", "Giấc mộng kê vàng" hay "Giấc hoàng lương" đều do điển tích trên. Có nghĩa sự phú quý vinh hoa chẳng khác nào một giấc mộng.

52. ca dao

53. Thơ Nguyễn Du

54. ca dao

 

 

Toàn bộ lợi nhuận của công ty cổ phần Đại Nam không chia cho cổ đông. Lợi nhuận sau khi tái đầu tư, công ty sẽ dành 100% lợi nhuận còn lại cho quỹ từ thiện Hằng Hữu hoạt động vì cộng đồng, đặc biệt là chương trình mổ tim dành cho trẻ em