Đại Nam Văn Hiến Sử Thi Tập 1 - Phần 1

Đại Nam Văn Hiến Sử Thi Tập 1 - Phần 1

                                   

Thay lời tựa,

          Nói đến việc viết sử, người ta nghĩ ngay đến hai chữ niên biên. Là vì việc viết sử, về căn bản, là để ghi lại những sự kiện đã xảy ra trong một cộng đồng có tên là quốc gia hoặc quốc tế; và những sự kiện ấy sẽ được ghi theo nguyên tắc thứ tự thời gian.

          Đó là nói về việc viết sử chung chung; hoặc nói một cách khác, đó là nói về việc viết văn sử.

          Nhưng về sử thi thì có thể không nhất thiết phải như thế. Viết sử thi, người cầm bút có thể linh động hơn, tùy theo cảm hứng hơn.

          Huống nữa, khi người ta lại viết sử thi theo lối tư nghị, luận bàn. Thì cây bút của người viết lại càng “được phép” tung hoành hơn, tung hê hơn, tung tẩy hơn. Vì nó là thơ mà. Vì nó là đạo mà.

          Trên đây là cái quan niệm về viết sử thi mà, dựa vào nó, tôi đã hiến dâng hơn mười hai ngàn câu thơ, những vần thơ song thất lục bát. Ghi chép những sự kiện xảy ra trong lịch sử nước nhà. Đồng thời lại chiêm nghiệm về từng sự kiện ấy, rút ra từ nơi chúng những bài học, những quy luật – của đạo, của đời. Và lẽ tất nhiên, cũng để dành khá nhiều câu thơ để trình bày về những chiêm nghiệm ấy, những quy luật ấy. Cho nên dẫu tập sử thi này cũng dựa vào nguyên tắc, phương pháp niên biên; nhưng lại rất chi là linh động. Chủ yếu làm sao để rút ra từ lịch sử những bài học về sự thành bại thịnh suy của cuộc đời, của nước nhà. Để người đọc, nhất là lớp trẻ nước ta, có thể học khôn được đôi điều, trong cái tinh thần ôn cố tri tân vậy.

          Một điều thưa gởi sau cùng: sở dĩ tác giả tập sử thi này chọn thể thơ song thất lục bát để thực hiện trên mười hai ngàn câu thơ, ấy là vì nghĩ rằng: kết hợp hai lối thơ tiêu biểu của Trung Quốc và Việt Nam – của xưa và của nay – ắt sẽ có khả năng quán xuyến được phần nào những ưu điểm đặc thù của chúng – trong mục tiêu diễn đạt được cả hai phần: trí tuệ và tâm tình của dân tộc Việt.

          Đôi lời mạo muội. Những gì còn lại, cúi mong chính nội dung của tập sử thi này sẽ tỏ bày cùng quý bạn đọc thân yêu.

                                                                                      HUD             

1.“Việt Nam khởi tổ xây nền”        

2.Lời “tiên tri” của Trình Tuyền lạ thay!

3.Bao nghìn năm sau ngày mở nước,

4.Sấm Trạng ghi mồn một đấy thôi!

5.Bao trăm năm… tiếng ru nôi….

6.Việt Nam khởi tổ…để rồi đăng quang!

 

7.Sao hai tiếng Việt Nam đẹp thế!

8.Y như lời của mẹ hiền ru…

9.Chở chuyên tròn cả ngàn thu,

10.Chở chuyên tròn cả tiếng ru ngàn đời…   

 

11.Phải chăng đấy tiếng lời định mệnh?

12.Quốc hiệu mà như chính hồn ta!

13.Như lời chú “úm ba la”;

14.Lại như tiếng vạc thiết tha bên cồn.

 

15.Lại như tiếng càn khôn rủ rỉ;

16.Tiếng sao Hôm thầm thỉ sao Mai.

17.Rằng: mình tuy một mà hai,

18.Tuy hai mà một: láng lai đồng bào…

 

19.Năm thế kỷ miệt mài xương máu…

20.Lời sấm truyền đau đáu bên tai.

21.Thì thầm quốc hiệu tương lai:

22.Việt Nam, hai tiếng triển khai sấm truyền…

 

23.Rõ định phận tại thiên thư thế!

24.Ấy cháu đời Viêm đế thứ ba.

25.Quang tiền thùy hậu nguy nga:

26.“Nối dòng Hóa Đức, gọi là Đế Minh”.

 

27.Xe mây sớm đăng trình Nam tiến,

28.Hội tiên rồng thể hiện âm dương.

29.Một trai nối dõi tông đường:

30.Tục danh Lộc Tục, Kinh Dương hiệu là.     

 

31.Là Quân trưởng nước ta thuở ấy:

32.Nước trong nguồn đẹp bấy tình quê.

33.Tiên rồng lại kết phu thê…

34.Kinh Dương Vương kết giải thề Thần Long.

35.Trang thục nữ vốn dòng thần thoại:

36.Động Đình kia trường tại xuân ba.

37.Để rồi mãn nguyệt khai hoa:

38.Lạc Long Quân ấy con nhà rồng tiên.

 

39.Rồng tiên ấy mối duyên tiền định…

40.Lạc Long Quân lại sánh Âu Cơ.

41.Để rồi, như một bài thơ:

42.Sinh ra một bọc chở vừa trăm trai!

 

43.Ôi, huyền thoại! có ai không nhỉ!

44.Sinh trăm con trong chỉ một lần?

45.Xuyên qua chữ điệu thơ vần,

46.Ẩn một sự kiện mười phân rõ ràng!

 

47.Ấy là đất Phương Nam thuở ấy

48.Có trăm dòng Việt vậy – hiện sinh.

49.Một tình huynh đệ, đệ huynh…

50.Như từ một bọc kết tinh: đồng bào!    

 

51.Trăm dòng Việt xiết bao thân thiết…

52.Chữ gọi là Bách Việt – truyền ngôn…

53.Có điều trong cõi càn khôn,

54.Và trong quy luật sinh tồn cạnh tranh…

 

55.Chín mươi tám người anh em Việt,

56.Mỗi tồn sinh hai Việt: Lạc, Âu.

57.Vẫn theo huyền thoại, như sau:

58.Từ trong lòng mẹ nhiệm mầu Âu Cơ…

 

59.Trăm trai nọ, bấy giờ khôn lớn,

60.Được mẹ cha chia gọn thành hai.

61.Đôi phương non nước tuyệt vời:

62.Năm mươi xuống biển, năm mươi lên ngàn.

 

63.Từ một họ Hồng Bàng như thị,

64.Tách làm hai theo nghĩa đồng quy:  

65.“Lạc Long về chốn Nam thùy,

66.Âu Cơ sang nẻo Ba Vì Tản Viên”.

 

 

 

67.Chủ trương chọn con hiền nối dõi:

68.Ngôi đầu tiên tên gọi Hùng Vương.

69.Phong Châu dựng mối triều cương,

70.Rồng chầu hổ phục, cát tường địa linh.     

 

71.Văn Lang, hiệu nước xinh văn tự:

72.Lấy chữ Văn tỏ ý hiếu hòa.

73.Trăm năm trong cõi người ta,

71.Một niềm hòa thuận ấy là nhân văn.

 

75.Còn chữ Lang? ấy rằng lương hảo…

76.Rằng nết na khéo bảo, khéo ban;

77.Rằng hay, rằng giỏi, rằng ngoan…

78.Rằng lương tri, rằng rỡ ràng lương tâm.

 

79.Ôi, hai chữ thậm thâm quốc hiệu,

80.Nói lên niềm hòa hiếu tâm linh.

81.Hiếu hòa: ấy đức bình sinh

82.Của xa xưa, thuở nước mình còn… thơ!

 

83.Tự ấy đến bây giờ: chữ Hiếu

84.Bên chữ Hòa, quốc hiệu Văn Lang

85.Khác nào cây kim chỉ nam,

86.Mãi soi đuốc tỏ bước đường ta đi.

 

87.Bên Dũng, có Trí Bi khắng khít,

88.Ấy quốc phong nước Việt ngàn thu.

89.Đại Hùng phải thế chăng ru?

90.Bên Cang mãi mãi có Nhu, song hành.    

 

91.Cang, thì chính sử xanh đã nói:

92.Có nước nao trên cõi địa cầu,

93.Trải qua một cuộc bể dâu,

94.Ngàn năm nô lệ vẫn đâu mất mình.

 

95.Vẫn son sắt đinh ninh bản chất,

96.Núp mình trong cõi mật khu riêng;

97.Cõi mật khu rất thiêng liêng,

98.Của tao nôi mẹ, của niềm ca dao.

 

 

99.Kim cương dẫu cứng, nào bằng được

100.Lòng dân ta yêu nước Việt ta.

101.Ngàn năm cát bụi phong ba,

102.Mà hồn nước chẳng phôi pha chút nào!

 

103.Vẫn đau đáu tự hào dân tộc;

104.Vẫn bạt ngàn thao thức tâm linh;

105.Vẫn khăng khăng cái chính mình:

106.Niềm Âu nỗi Lạc… tự tình càn khôn.

 

107.Nhu, thì nước trong nguồn nghĩa mẹ:

108.Tình đồng bào đẹp đẽ vô song.

109.Bên tình đồng chủng Tiên Long,

110.Lại tình đồng thể trắng trong nhất thừa.  

 

111.Mười tám đời Hùng, vua một cõi…

112.Hai sáu hai mốt (262) năm, gói vào đây.

113.Với các chi vua như vầy:

114.Kinh Dương Vương - ứng vào ngay chi Càn.

 

115.Ngang thời đại Tam Hoàng Trung Quốc,

116.Bắt đầu từ Lộc Tục lên ngôi;

117.Kế thừa tám sáu năm thôi,

118.Rồi qua chi Khảm nối đời Lạc Long.

 

119.Hùng Hiền Vương: Lạc Long Quân vậy!

120.Rồng này bên tiên ấy: Âu Cơ.

121.Trăm con – trăm trứng – bài thơ…

122.Nâng niu Bách Việt thơm tờ sử trăng.

 

123.Hai trăm sáu chín (269) năm: chi Khảm,

124.Với những đời vua sáng tôi ngay;

125.So qua Bắc sử mới hay

126.Ấy thời Ngũ Đế, trị rày Trung Hoa.

 

127.Qua chi Cấn: nước ta lại có

128.Hùng Quốc Vương – tên họ Hùng Lân.

129.Lên ngôi vào tuổi thành nhân,

130.Hai trăm bảy tám (278) mùa xuân trị vì.

 

 

131.So Hán sử ấy kì Đế Thuấn,

132.Thuộc Hiếu Ngu phong vận phú cường.

133.Qua chi Chấn: Hùng Hoa Vương,

134.Ba trăm bốn chục (340) năm trường – lẻ hai.  

 

135.So Hán sử: thuộc đời Đế Quýnh,

136.Nhà Hạ là quốc tính Trung Nguyên.

137.Bửu Lang nối nghiệp vương quyền,

138.Trên ba thế kỉ ngự miền Văn Lang.

 

139.Qua chi Tốn: Bảo Lang kế vị,

140.Hai trăm (200) năm trường trị Phong Châu.

141.Mấy đời vua chuyển tiếp nhau,

142.(So ra: Kiệt Hạ cũng đâu đời này).

 

143.Chi Ly: chuyển ngôi rày Kỷ Sửu,

144.Tám mốt (81) năm thành tựu triều cương.

145.Với triều danh: Hùng Hồn Vương,

146.So bên Hán sử: triều Thương đương thời.

 

147.Qua chi Khôn: nối đời thịnh trị,

148.Là Hùng Chiêu Vương, húy Quốc Lang.

149.Hai trăm (200) năm ngự ngai vàng,

150.(So bên Hán sử: cũng đang Thương triều).

 

151.Tới chi Đoài: vẫn theo đời trước:

152.Lấy chữ Hùng làm cột làm rường.

153.Ấy là triều Hùng Vĩ Vương,

154.Với năm đời nối trị tròn trăm năm.  

 

155.So Hán sử, cũng nhằm thời đại

156.Của triều Thương, tên gọi Nam Canh.

157.Hết Đoài, tới Giáp khai sanh:

158.Hùng Định Vương mở đầu ngành địa chi.

 

159.Tám mươi (80) năm trị vì hết thảy,

160.So bên Hán sử: ấy đời Ân.

161.(Là đời có bậc thần nhân

162.Giúp vua giết giặc, công huân sá gì!).

 

 

163.Giáp qua Ất: Hùng Uy triều đại:

164.Chín mươi năm, tồn tại ba đời.

165.So theo Hán sử, ấy thời

166.Của vua Tổ Giáp, vẫn đời nhà Ân.

 

167.Ất qua Bính: đời Hùng Trinh vậy:

168.Bốn đời, trăm lẻ bảy (107) xuân thu.

169.So theo Hán sử bấy giờ

170.Là tương đương với triều Chu trị vì.

 

171.Bính qua Đinh: ấy thì Hùng Vũ: 

172.Chín sáu (96) năm, truyền thụ ba đời.

173.So theo Hán sử ấy thời

174.Mục Vương trị nước thuộc đời Tây Chu.    

 

175.Đinh qua Mậu: triều vua Hùng Việt:

176.Chín sáu (96) năm lẫm liệt triều cương.

177.Ba đời hiệu Hùng Việt Vương,

178.So theo Hán sử: Mục Vương Chu triều.

 

179.Mậu qua Kỷ: vẫn theo nếp Việt,

180.Hùng Anh vương nối nghiệp làm vua.

181.Bốn đời, chín chín (99) xuân thu.

182.So Hán sử: ấy Đông Chu đương thời.

 

183.Kỷ qua Canh mở đời Hùng Triệu:

184.Chín bốn (94) năm, giữ hiệu ba đời.

185.So theo Hán sử: ấy thời

186.Huệ Vương – Trung Quốc, thuộc đời Đông Chu

 

187.Canh qua Tân: lật tờ Việt sử,

188.Để nghe đời tự chủ thăng hoa.

189.Vững vàng trước cuộc can qua,

190.Hùng Tạo Vương mở sơn hà đẹp xinh.

 

191.Chín hai (92) năm tận tình với nước,

192.Ba đời vua sau trước tròn vuông.

193.(Bánh dày tròn, bánh chưng vuông)

194.So theo Hán sử, tỏ tường: Đông Chu.  

 

 

195.Tân qua Nhâm: triều vua Hùng Nghị,

196.Bốn đời vua bền bỉ triều cương.

197.Cũng chung danh Hùng Nghị Vương,

198.Một trăm sáu chục (160) năm trường thiệu long.

 

199.So Hán sử: vẫn Đông Chu vậy:

200.Uy Việt Vương, đời ấy, bắc phương.

201.Lật từng trang “đức lưu phương”,

202.Mà nghe hồn nước Việt Thường Văn Lang.

 

203.Nhâm qua Quý: triều Vương Hùng Duệ:

204.Cũng ba đời vua nhỉ, đúng chăng?

205.(Ngày nay, ở đình Tây Đằng:

206.Ba Vì – Hà Nội – vẫn hằng khói hương.

 

207.Thờ Tam Vị (Hùng Vương) quốc chúa:

208.(Ấy ba đời cuối thuở vua Hùng).

209.“Người đời muôn sự của chung:

210.Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi!”

 

211.Ôi trang sử tuyệt vời khai quốc!

212.Lấy chữ Hùng làm gốc triều cương.

213.Phải chăng ý đã tỏ tường:

214.Hùng tâm một phiến, mối giường ngàn thu!   

 

215.Có chữ Hùng, chữ Từ mới có;

216.Có chữ Từ, mới có chữ Bi.

217.Đại hùng lực, đại từ bi,

218.Ấy là cốt lõi những gì Việt Nam!

 

219.Nhờ cái gốc kim cang nó thế,

220.Nên trải bao dâu bể phong trần,

221.Dẫu hồng nhan có đa truân,

222.Phiến đan tâm vẫn nhất chân đồng bào.

 

223.Dù một ngàn năm vào nô dịch,

224.Một trăm năm biệt tích nhân quyền,

225.Nhưng từ trong cõi sầu đêm,

226.Vẫn long lanh một ánh thiêng Lạc Hồng.

 

 

227.Ấy là ánh đại đồng nhất thể,

228.Thể hiện niềm bất nhị tâm linh.

229.Rằng: dù thập loại chúng sinh,

230.Vẫn chung một gốc: thiện, tinh, chân, thường.

 

231.Với cái gốc kim cương trí tuệ,

232.Nhận thức chân lý bất nhị này,

233.Văn Lang mở hội rồng mây,

234.Với mười tám hiệu vua rày Hùng Vương.   

 

235.Trên một dãy quê hương cẩm tú,

236.Chia thành mười lăm bộ, như sau:

237.Văn Lang (ấy chốn đô đầu -

238.Là nơi vua ngự, gồm thâu vương quyền,

 

239.Nay tên mới là miền Bạch Hạc).

240.Châu Diên(là địa hạt Sơn Tây).

241.Phúc Lộc (cũng Sơn Tây này).

242.Tấn Hưng(tên gọi ngày rày: Tuyên Quang).

 

243.Vũ Định(chốn bạt ngàn sơn cước:

244.Những đồi chè xanh mướt cao nguyên…

245.Bây giờ tên gọi Thái Nguyên).

246.Vũ Hạnh: (quan họ cổ truyền Bắc Ninh).

 

247.Lục Hải: (chốn ân tình xứ Lạng…

248.Lời ca dao tản mạn trời xanh:

249.“Ai lên xứ Lạng cùng anh

250.Bõ công bác mẹ sinh thành ra em”).

 

251.Ninh Hải: (ấy Quảng Yên đương đại);

252.Đồng Văn, Dương Tuyền: (Hải Dương xinh).

253.Giao Chỉ:(Hà Nội, Ninh Bình,

254.Hưng Yên, Nam Định, đẹp tình Tràng an).   

 

255.Cửu Chân(ấy hiên ngang Thanh Hóa…

256.Nơi Lam Sơn vàng đá mật khu).

257.Hoài Hoan(Nghệ An bây giờ,

258.Nơi đẹp chín chín bài thơ non Hồng).

 

 

259.Cửu Đức(ấy non sông Hà Tĩnh,

260.Địa hữu thần đẹp chính khí ca).

261.Việt Thường(non biển bao la:

262.Quảng Bình, Quàng Trị quê ta bây giờ).

 

263.Hai ngàn sáu trăm dư hai mốt (2621):

264.Ấy thời gian dựng nước Hùng Vương,

265.Với bao vàng đá kim cương,

266.Trải xinh một dải giang sơn Đại Hùng.

 

267.Về tôn thất, có chung danh gọi:

268.Con trai vua thì gọi Quan Lang,

269.Con gái thì gọi Mỵ Nương.

270.Do lẽ đó, có nhiều nường chung tên.

 

271.Ví như suốt thời huyền sử nọ

272.(Huyền sử vì không có chữ ghi;

273.Nhưng, dù chẳng có chữ chi

274.Lại có bao di chỉ ghi hộ rồi).    

 

275.Nhắc lại, trong suốt thời huyền sử,

276.Đã có khá nhiều vụ Mỵ Nương.

277.Ví như trong vụ tranh hôn,

278.Đời thứ mười tám Hùng Vương thuở nào.

 

279.Câu chuyện sử thi sao mà đẹp,

280.Mà hào hùng một nét hùng ca;

281.Với đôi quái kiệt sơn hà

282.Một Sơn Tinh với một là Thủy Tinh.

 

283.Hoặc như chuyện diễm tình tuyệt diễm:

284.Là chuyện Trương Chi, chuyện Mỵ Nương.

285.Chuyện gói tròn cái tang thương

286.Của tình yêu, của đoạn trường tân thanh.

 

287.Gói tròn cái mong manh của mộng,

288.Cái trái ngang cuộc sống con người;

289.Cái “trong đầy ắt có vơi”;

290.Chữ tài chữ mệnh đời đời ghét nhau.

 

 

291.Hùng sử còn biết bao huyền thoại

292.Của những người xinh gái Mỵ Nương.

293.Dẫu không sách vở văn chương,

294.Nhưng lời truyền thuyết đẹp gương nhân tình.   

 

295.Chúng vẽ nên những hình những dạng,

296.Của tâm tình trong sáng Việt Nam;

297.Của tinh thần tộc Văn Lang;

298.Với nhân trí dũng vô vàn bẩm sinh. 

 

299.Trở lại chuyện “chức danh” thời ấy:

300.Ngoài Mỵ Nương với lại Quan Lang –

301.Chỉ miêu duệ họ Hồng Bàng;

302.Còn danh Lạc Tướng đứng ngang Lạc Hầu.

 

303.Lạc tướng để chỉ vào quan võ,

304.Lạc hầu là để trỏ quan văn.

305.Suốt hai ngàn sáu trăm năm

306.Lạc Hầu, lạc Tướng khéo chăm dân lành.

 

307.Họ Hồng Bàng, như danh đã định:

308.Mười tám chi vua thịnh nếp Hùng.

309.Tuy rằng sách sử thì không,

310.Nhưng mà di chỉ mới hùng hậu sao!

 

311.Trước khi nói đến ba truyền thuyết…

312.Những sử thi đẹp tuyệt trần gian,

313.Chở tròn nhân nghĩa đá vàng,

314.Chở tròn nhân bản hiên ngang sơn hà.    

 

315.Trước khi nói đến hoa đến gấm

316.Của lời ru mẹ ấm tao nôi,

317.Nuôi cho con được nên người

318.Bằng dòng sữa mẹ, bằng lời ca dao… 

 

319.Trước khi nói đến bao trí tuệ

320.(Văn hóa phi vật thể) nội hàm

321.Trong kho tục ngữ dân gian,

322.Chở chuyên vô tận kho tàng tâm linh.

 

 

323.Hãy nói đến văn minh Lạc Việt,

324.Qua những di chỉ tuyệt trần đời.

325.Và, trên tất cả, rạng ngời:

326.Ấy là những trống đồng đời Văn Lang.   

 

327.Những chiếc trống hàm tàng thông điệp

328.Của văn minh Lạc Việt phi thường,

329.Nói lên trình độ cao cường

330.Của khoa học nghệ thuật đương thời này.

 

331.Nói lên những cái hay cái đẹp

332.Của tư duy Việt, nét Hùng Vương.

333.Thuở trái đất còn mù sương,

334.Mà văn hóa Việt đã vươn mặt trời.     

 

335.Sao quên được tiếng lời kinh Phật:

336.“Duy tuệ thị nghiệp” thật hùng tâm!

337.Như sen kia mọc giữa đầm:

338.Câu “duy tuệ” mở phương châm tót vời.

 

339.Người ta sống trên đời, há phải

340.Lấy áo cơm làm đại mục tiêu?

341.Lợi danh chi khác bọt bèo,

342.Chỉ “duy tuệ” mới là điều bản nguyên.

 

343.Mới là điều chân kim-bản-vị

344.Giúp đời người có ý nghĩa thôi:

345.Người ta sống ở trên đời

346.Là để hiểu rõ kiếp người là chi.

 

347.Ôi câu hỏi lâm ly trầm thống

348.Thể hiện trên mặt trống đồng kia!

349.Một vầng dương tỏa sơn khê:

350.Xua tăm tối, mở tiền đề văn minh.

 

351.Một vầng dương tâm linh trí tuệ,

352.Tỏa ánh thiêng diệu đế ba nghìn.

353.Để cho ý sống vươn lên,

354.Để cho sức sống triền miên vượt bờ.   

 

355.Cho vũ trụ mở tờ thông điệp:

356.Tiếng trống đồng Lạc Việt Đông Sơn!

357.Tiếng trống đồng gọi nguồn cơn,

358.Tiếng trống đồng bật sức vươn mặt trời!

 

359.Tiếng trống: nhịp tim đời Âu Lạc,

360.Chở chuyên nguồn sức bạt ngàn xanh

361.Của tình yêu đất long lanh,

362.Lại tình yêu nước trong lành như thơ!

 

363.Ngoài tiếng trống dựng cờ độc lập,

364.Còn biết bao “di vật” miếu đền

365.Phụng thờ quốc tổ Rồng Tiên…

366.Những ngàn năm khói hương bền kim âu!

 

367.Trên nền đất Lâm Thao Phú Thọ,

368.Giữa một vùng cẩm tú giang sơn,

369.Từ hăm lăm thế kỷ hơn,

370.Một đền quốc tổ Hùng Vương đã từng

 

371.Được xây dựng vô cùng tráng lệ

372. An Dương Vương, vị hùng quân;

373.Đã từng, với chiếc nỏ thần,

374.Phất cờ độc lập, đuổi quân xâm loàn!    

 

375.Đền vua Hùng bạt ngàn sơn cước:

376.Ba ngôi đền cao vượt tầng xanh.

377.Thoạt đầu đền Giếng xinh xinh,

378.Bao ngàn năm, thoảng dấu trinh tiên hài.

 

379.Từ đền Giếng, vượt hai trăm (200) bậc,

380.Bước lên đền Hạ thật nguy nga.

381.Trang nghiêm chùa Bụt một tòa,

382.Tam quan mở đón hương hoa cúng dường.

 

383.Ấy là chốn dệt chương thần thoại:

384.Mẹ Âu Cơ vĩ đại càn khôn,

385.Sinh trăm trai Việt tròn vuông,

386.Để muôn sau đẹp hiến chương đồng bào!

 

 

387.Từ đền Hạ vươn cao chất ngất

388.Một trăm sáu tám (168) bậc trèo non.

389.Tới đền Trung, cõi vàng son,

390.Là nơi gây dựng triều cương Đại Hùng.

 

391.Lại là nơi đã từng thể hiện

392.Môt kỳ công văn hiến phong nhiêu

393. sự tích chàng Lang Liêu

394.Dâng lên cha mẹ tình yêu cao dầy,   

 

395.Qua hai thực phẩm đầy phong cốt:

396.Một: bánh dầy, và một: bánh chưng.

397.Dầy thì tròn trặn, trắng trong;

398.(Dâng Trời Cha vậy, tấc lòng của con!)

 

399.Chưng thì vuông như hồn Đất Mẹ,

400.Với tình non nghĩa bể nghìn xanh.

401.Quên sao cha mẹ cho đành

402.Vì yêu cha mẹ, con dành đời con…

 

403.Ấy, ý nghĩa vuông tròn hiếu đạo:

404.Hiếu đạo là quốc đạo Văn Lang ;

405.Đã, từ vô lượng thời gian,

406.Sắt son đúc kết nên Lang Liêu này!

 

407.Từ Đền Trung, vượt mây trăm bậc

408.Tới Đền Hùng chất ngất xanh khơi;

409.Gọi là Đền Thượng – ấy nơi

410.Diễn ra lễ tạ ơn Trời Chí Nhân!

 

411.Lại, lễ nhớ công ân khai quốc

412.Mười tám đời Việt tộc Hùng Vương.

413.Ngoài bao linh vị trầm hương,

414.Lại còn Cột Đá Thiêng vươn mặt trời.    

 

415.Cột đá dựng từ thời Âu Lạc,

416.An Dương Vương ghi tạc thệ nguyền

417.Rằng con rằng cháu rồng tiên

418.Nguyện gìn độc lập, nguyện gìn tự do.

 

 

419.Từ đỉnh Nùng non to đá khỏe

420.Cúi nhìn xem đất mẹ tinh khôi

421.Thấy xênh xang trăm ngọn đồi

422.Như đàn voi phục chầu ngôi Vua Hùng.

 

423.Ôi non nước của vùng Vĩnh Phú

424.Thuộc Phong Châu cẩm tú quê mình;

425.Nơi mà nhân kiệt địa linh;

426.Địa linh nhân kiệt… quá trình tương giao.

 

427.Những di chỉ xiết bao kỳ thú,

428.Những lưỡi rìu, lưỡi búa Đông Sơn.

429.Chiêng kia trống nọ dập dồn,

430.Cất lên thông điệp cội nguồn Văn Lang.

 

431.Nếu một nước thiếu trang chính sử;

432.Hoặc do chưa có chữ cho mình,

433.Hoặc từng có chữ riêng xinh,

434.Mà do quốc nạn, chữ đành vong thân.   

 

435.Dù sao nữa, dù không chính sử

436.Thể hiện bằng văn tự phân minh,

437.Văn Lang đã thể hiện mình

438.Bằng vô lượng truyền thuyết xinh trăng rằm.

 

439.Những chuyện kể dưới trăng gắn bó

440.Với bao di tích nọ hùng hồn

441.Dệt thành pho sử Hùng Vương

442.Cho con cháu Việt lửa hương tấc thành.

 

443.Bên pho sử rất xanh – thanh sử:

444.Còn cả nguồn đạo của tâm linh

445.Cho ta mãi mãi là mình,

446.Thiên địa nhân đúc nòi tình Văn Lang.

 

447.Cứ thử đọc những trang huyền sử,

448.Để nghe nguồn tình tự thẳm sâu.

449.Lẫn trong những chuyện bể dâu,

450.Xảy ra trên cõi trầu cau quê mình.

 

 

451.Thử ví dụ chuyện Song Tinh nhé:

452.Trong hoang đường lại hé chân phương.

453.Chuyện rằng: đời vua Hùng Vương,

454.Có cô công chúa Mị Nương tuyệt vời.     

 

455.Cái éo le là nơi phía… rể:

456.Có một nàng thôi nhé! hồng nhan,

457.Cầu hôn thì những hai chàng,

458.Mà chàng nào cũng hiên ngang anh tài!

 

459.Khó phân biệt được ai hơn kém,

460.Nên “ông già vợ” hẹn… như ri:

461.“Hai khanh cùng xứng tu mi

462.Khiến cho công chúa khó bề chọn ai.

 

463.Nay trẫm hẹn cả hai: mai sớm,

464.Hễ ai đem lễ sớm cầu hôn

465.Thì người ấy đặng Mị Nương”.

466.Một đêm qua, một đêm trường… dài ghê!

 

467.Thoắt một cái, gà te te gáy,

468.Mới canh năm đã thấy Sơn Tinh

469.Dẫn theo hổ tượng hùng binh,

470.Chở theo lễ vật linh đình phủ phê.

 

471.Cứ y cứ lời kia giao ước,

472.Thế là Sơn Tinh được vợ ngoan.

473.Rõ: tiên hạ thủ vi cường,

474.Ngay tắp lự, dẫn Mị Nương lên ngàn.   

 

475.Chỉ tội nghiệp cho chàng-chậm-bước,

476.Gã Thủy Tinh hơi được cù lần!

477.Mải lo chọn Mão chọn Dần,

478.Qua canh sáu, mới xuất quân lên đường.

 

479.Thì cái bãi chiến trường đã dẹp,

480.Hỏi còn đâu người đẹp người xinh!

481.Đùng đùng nổi trận lôi đình,

482.Thủy Tinh xua đám thủy binh rượt nà.

 

 

483.Tôm, cua, cá… lại ba ba nữa;

484.Lại còn sanh, còn sứa vân vân.

485.Đùng đùng gió giục mây vần,

486.Thủy Tinh hăm hở tiến quân lên ngàn.

 

487.Rồi cứ thế mênh mang sóng dậy…

488.Nước dâng lên, dâng mãi không dừng…

489.Chở theo tôm cá tưng bừng,

490.Cả kình cả ngạc cũng không thiếu gì!

 

491.Thủy binh cứ nhất tề xốc tới,

492.Quyết nhận chìm thế giới Sơn Tinh.

493.Ba đào một cuộc trường chinh,

494.Mênh mông hồng thủy, rung rinh địa cầu.    

 

495.Có điều, nước tới đâu thì núi

496.Cũng vươn theo, vươn tới chín tầng.

497.Tha hồ nước cuộn nước dâng,

498.Ba Vì kia vẫn xanh ngần Tản Viên.

 

499.Cứ thế, bảy ngày đêm không nghỉ…

500.Cuộc tranh phong ngụ ý vô cùng:

501.Một, là trong cõi vua Hùng

502.Thủy tai thường trực hành hung kiếp người.

 

503.Vậy, để sống còn, thời dân Việt,

504.Phải vươn mình, y hệt Sơn Tinh,

505.Để mà chống chọi thủy binh

506.Để mà tồn tại nhất sinh – vạn đời!

 

507.Hai, là ngụ ý: người hào kiệt

508.Phải tranh tiên cho kịp bước đường.

509.Lòng thiết thạch, chí kim cương,

510.Sao cho “có được Mỵ Nương” mới là!

 

511.Những huyền sử sao mà phản ảnh,

512.Nghe tỉ tê như “chánh vì vương”!

513.Chuyện rằng: Phù Đổng Thiên Vương

514.Sinh từ nôi mẹ tầm thường tre mây.    

 

 

515.Ba năm nhé! Chẳng hay ăn nói,

516.Cứ nằm nghe tiếng gọi quê xanh.

517.Tiếng bốn mùa đẹp long lanh,

518.Tiếng rơm tiếng rạ, tiếng vành khuyên ca.

 

519.Tiếng cu gáy mượt mà nắng ấm,

520.Tiếng bồ chao thấm đẫm sương khuya.

521.Ba năm bằn bặt nôi kia,

522.Hình như để đợi điều chi gọi mình!...

 

523.Mà quả thực như tình Phù Đổng

524.Đợi tiếng kêu trầm thống quê hương…

525.Bấy giờ, chú bé Thiên Vương

526.Nhảy ngay xuống đất, thốt luôn một lời:

 

527.– “Thưa mẹ, xin gọi người sứ giả

528.Tâu lên Vua Hùng ạ, cho con”…

529.Thế rồi, trang sử vàng son:

530.Một vươn vai, để cao vươn chín tầm!

 

531.Rồi, ngốn sạch mười mâm cơm hẩm,

532.Mười vại cà muối đậm tình quê;

533.Rồi, nhảy lên ngựa sắt kia,

534.Nhổ bụi tre lớn sum suê đầu làng.    

 

535.Xông vào trận, hiên ngang chiến đấu,

536.Quét bụi tre, sạch dấu quân thù.

537.Lửa hờn un đúc ngàn thu,

538.Đốt tan trăm ngục ngàn tù ngoại xâm.

 

539.Quét xong lũ giặc Ân cường bạo,

540.Gọi là muôn một báo quân ân.

541.Thiên Vương chẳng nán lại trần,

542.Lại quay đầu ngựa, đằng vân lên trời!

 

543.Về đỉnh Sóc Sơn, nơi xuất xứ

544.Của Thiên Vương, như tự khai thiên.

545.Một trang huyền sử thiêng liêng,

546.Trong huyễn mà có thực, nên tuyệt vời!

 

 

547.Vì chưng, giữa cõi đời quê mẹ,

548.Có biết bao tuổi trẻ hùng anh.

549.Một đời ẩn tích mai danh,

550.Lớn lên từ đức sinh thành quê hương.

 

551.Từ cái đức nồi cơm cung dưỡng,

552.Với vại cà muối những giòn tan.

553.Những chàng trai trẻ Văn Lang,

554.Lớn lên như thổi để làm Thiên Vương.   

 

555.Để nhổ bụi tre làng đuổi giặc,

556.Để cưỡi con ngựa sắt can trường,

557.Để liều thân cứu quê hương,

558.Để thôi, chả nhận huy chương cho mình!

 

559.Ôi những trang sử hình như huyễn,

560.Mà thực ra rất hiện thực đời.

561.Những huyền sử Việt Nam ơi,

562.Mỗi trang là một tiếng lời tả chân!

 

563.Có cái lớn nào “thần” hơn nhỉ,

564.Cái lớn từ nơi ý nhân dân.

565.Nhân dân là thánh là thần,

566.Là chân thiện mỹ, tuyệt trần thiên lương.

 

567.Là tất cả hỏa hương, hương hỏa,

568.Là cây cao bóng cả tâm linh.

569.Có nhân dân, ấy có mình;

570.Không nhân dân, ấy quyển kinh vô hồn.

 

571.Sao quên được những chương thần thoại:

572.Chuyện Chử Đồng Tử với Tiên Dung.

573.Chử Đồng Tử có hay không,

574.Cũng sẵn có đó, trong lòng nhân sinh.     

 

575.Vì vũ trụ do tình mà có,

576.Mà tình thì chẳng nọ chẳng kia.

577.Chẳng gì phân, chẳng gì chia:

578.Tình là bản chất huyền vi đất trời.

579.Có tình, mới có người ta chứ;

580.Có người ta, mới có thần tiên.

581.Chử Đồng Tử hóa nên thiêng,

582.Thoạt tiên cũng tự trái tim con người.

 

583.Chử Đồng Tử thuở thời mới lớn,

584.Phận nhà nghèo khó tưởng nghèo hơn.

585.Trong nhà có hai cha con,

586.Mà y phục chẳng gì hơn một… quần.

 

587.Người thì có hai thân, quần lại

588.Có một thôi, ái ngại mần răng!...

589.“Gia bần tri hiếu tử” chăng?

590.Thôi thì hiếu tử nhường phăng chiếc quần

 

591.Để cha mặc. Tinh thần dẫu đúng:

592.Dẫu gì thì cha cũng cần hơn…

593.Có điều, để tránh tai ương,

594.(Nghĩa là để tránh phép vương gia hình.     

 

595.Không mặc quần: ấy mình khiếm lễ,

596.Công xúc tu sỉ nhé! Còn chi?)

597.Vậy thì giải pháp như ri:

598.Chử Đồng Tử sẽ biến đi ban ngày!

 

599.Giải pháp dẫu nghe hay, mà khó:

600.Biến đi đâu cho nó… bây giờ?

601.Một là xuống vũng mò cua,

602.Hai là đào cát lấp cho kín mình.

 

603.Xui bữa ấy (là tình hay tội?),

604.Trong gió xuân phơi phới tơ nhung,

605.Có nàng công chúa Tiên Dung

606.Dong thuyền du ngoạn trên dòng xuân giang.

 

607.Tới chỗ nọ, thấy ham cảnh đẹp

608.Bèn đỗ thuyền (duyên nghiệp gì đây?).

609.Thế là giữa chốn trời mây,

610.Trên bờ cát trắng hây hây gió đàn,

 

 

611.Một phòng tắm vô vàn dã chiến,

612.Đã hình thành giữa biển trời xuân.

613.Thế rồi tiên nữ giáng trần,

614.Dầy dầy sẵn đúc khỏa thân một tòa.    

 

615.Chuyện đáng lẽ chỉ là như thế:

616.Nàng Tiên Dung diễm lệ thần tiên,

617.Một hôm du ngoạn dừng thuyền,

618.Vây màn tắm giữa thiên nhiên một mình.

 

619.Nhưng thần thoại lại hình như khác:

620.Nước tẩy trần khiến cát cuốn đi,

621.Lòi ra một gã nam nhi,

622.Mình trần thân trụi khác chi… con người!

 

623.Sao có thể thế, trời ơi! nhỉ?

624.Người ở đâu ngẫu nhĩ dường kia.

625.Làm người ta thẹn chết đi!

626.Cơn thịnh nộ hỏi: “Sao mi dám? Hừ!”

 

627.Chử Đồng Tử ngắc ngư ngắc ngứ,

628.Quỳ lạy nàng công chúa đoan trang.

629.Rồi thưa thốt nỗi đoạn tràng:

630.Hai cha con vỏn vẹn mang một quần.

 

631.Nhường cha mặc, ấy phần con thảo,

632.Ai ngờ đâu lỗi đạo vua tôi…

633.Vân, vân… giọt lệ thay lời,

634.Nàng nghe cảm động bồi hồi lắm thay!   

 

635.Nghĩ rằng: chắc chi đây duyên nợ,

636.Chớ chuyện chi cắc cớ dường ni.

637.Thôi thì sự cổ lai hy,

638.Đã duyên như thế, vậy thì theo duyên!

 

639.Trong lịch sử tam thiên giai thoại

640.Dễ có thoại nào quái hơn không?

641.Một nàng công chúa thâm cung,

642.Một chàng không khố không quần gặp nhau.

                                                        

Toàn bộ lợi nhuận của công ty cổ phần Đại Nam không chia cho cổ đông. Lợi nhuận sau khi tái đầu tư, công ty sẽ dành 100% lợi nhuận còn lại cho quỹ từ thiện Hằng Hữu hoạt động vì cộng đồng, đặc biệt là chương trình mổ tim dành cho trẻ em