Trường ca Thăng Long - Quyển 1 - Phần 1

Trường ca Thăng Long - Quyển 1 - Phần 1

LỜI THƯA

    Nếu nói đến kinh đô có một ngàn năm (1000)tuổi thì trên trái đất không phải là không có- nhiều hơn nữa cũng có. Nếu nói về một kinh đô đủ tiêu chuẩn về (địa lợi) hiểu theo nghĩa “phong thủy” lẫn nghĩa vị trí địa dư thì trên trái đất này ngoài Thăng Long, cũng không phải là không có.

     Lại nói đến một kinh đô mà tự thân đã trải qua nhiều biến cố, nhiều cuộc bể dâu. Lại nói đến một kinh đô mà nơi có quy tụ được nhiều anh hoa của một nước…

     Tuy nhiên, kinh đô Thăng Long của chúng ta, bên cạnh những điều đã nói trên, vẫn còn những nét đặc thù khác, khiến góp phần nổi trội. Trong đó có một đặc thù tiêu biểu nhất này. Một ngàn năm trước, song song với việc vua Lý dời đô về Đại La Thành để rồi gặp lại Rồng và đặt lại hiệu thành là Thăng Long, và việc đi thỉnh ba tạng kinh Phật về. Để cho từ đấy cả nước Văn Lang thấm nhuần Phật Đạo. Để từ đấy thêm nếp sống của Thăng Long. Bấy giờ và mãi mãi, thấm đẫm đạo Từ Bi. Dấu ấn của Bi- Trí- Dũngkhắc sâu trong đời sống của dân tộc Việt, của Thăng Long Thành, khiến nó giải mọi tai ương “độ nhất thiết khổ ách”.

   Từ cội nguồn ấy mà bao nhiêu công oanh liệt, bao thành tựu văn hóa đã được hình thành, thể hiện những kì công kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, thi ca.

   Tất cả kết nên thành một khúc đại hùng ca của Thăng Long Thành, của giống nòi Lạc Việt, như đã phản ảnh trong muôn một. Qua tập thơ bé mọn này.

 

 

 

                                                                                Cẩn bút

                                                                        Huỳnh Uy Dũng

 

 

 

 

TRƯỜNG CA THĂNG LONG

                                                                                22/07/09- 02/06 năm Kỷ Sửu

 

 

Nếu có một kinh đô Văn Hiến

Với thiên thời địa lợi song song

Với cả một nhân hòa vinh hiển

Kinh đô này tên gọi: Thăng Long

 

Nếu có một trường ca Văn Hiến

Đẹp nghìn năm thẳm biển dài sông

Đôi cánh hạc bạch hào uyển chuyển

Trường ca này tên gọi: Thăng Long

 

Nếu có một bình minh Văn Hiến

Tự muôn xưa vọng tiếng trống đồng (10)

Trên cõi đất Đại La Thành hiện

Một bình minh tên gọi: Thăng Long

 

Nếu có một chiếc nôi Văn Hiến

Điệu ru con xao xuyến Tiên Rồng

Đan tâm ấy nghìn năm nhất phiến

Chiếc nôi này tên gọi: Thăng Long

 

Nếu có một mùa xuân Văn Hiến

Kết tinh bao hương sắc Lạc Hồng

Thi, nhạc, họa ngời ngời thánh điển

Mùa xuân này tên gọi: Thăng Long (20)

 

Nếu có một giang sơn Văn Hiến

Anh linh ơi! Sông Nhị núi Nùng

Thần Tiên Thánh Phật tròn thực hiện

Giang sơn này tên gọi: Thăng Long

 

Nếu có một trái tim Văn Hiến

Một trái tim- vâng, một Cõi Lòng

Ơn Cha nghĩa Mẹ tròn non biển

Trái tim này tên gọi: Thăng Long

 

Nếu có một tổng đề Văn Hiến

Một tổng đề tổng hợp mênh mông (30)

Trong mỹ ấy tuyệt vời chân thiện

Tổng đề này tên gọi: Thăng Long

 

Xưa, trên đất Đại La Thành

Đã từng có cổ rồng đoanh đất liền

Rồng đoanh kiến long tại điền

Để rồi phi long tại thiên lẫy lừng

Đại La rồng ngự điền trung

Long tàng hổ phục đẹp vùng Phong Khê

 

Đại La Thành, Phong Khê đất cũ

Nơi rồng tiên kết tụ anh linh (40)

Đã non đã nước hữu tình

Đã Sơn Tinh lại Thủy Tinh, Nhị Nùng

 

 

Non nước đã vô cùng thanh tú

Lại thêm long mạch ủ Giao Châu

Hẹn ngày thịnh vận dài lâu

Nam Thiên Nam Đế kim âu rỡ ràng

 

Nhớ một thuở Văn Lang nước cũ

Suốt ngàn năm bị lũ cuồng xâm

Vẽ vời kế độc mưu thâm

Chặn nguồn long mạch hùng tâm Việt Thường (50)

 

Nhưng nòi giống kiên cường Lạc Việt

Dễ chi cam mãi kiếp tôi đòi

Đường Lâm đứng dậy một người

Phất cờ độc lập dựng đời tự do

 

Ngô, Đinh, Lý… cơ đồ đã vững

“Chiếu Dời Đô” đã chứng cho minh

Từ Hoa Lư  thuộc Ninh Bình

Dời đô về Đại La Thành từ đây

 

“Thiên Đô Chiếu” tỏ bày thánh ý

Vì sao dời đô thế ? Vì chưng (60)

Một là: thắng địa vô song

Hiên ngang ngọa hổ tàng long đất này

 

 

 

 

Hai là: đất ở ngay tâm điểm

Giữa bốn phương thị hiện long uy

Ba là: thế đất phương phi

Đã cao lại sáng kém chi Nhược Bồng

 

So tất cả núi sông Lạc Việt

Chẳng nơi đâu ưu việt cho bằng

Rõ ràng địa lợi đa năng

Xứng ngôi xứng vị vinh thăng vạn đời(70)

 

Nay nương ý những người đi trước

Những bậc hiền thánh suốt thiên thu

Cầu lạc nghiệp, phải an cư

An cư ấy thực căn cơ chắc bền

 

Để cho nghiệp vươn lên mà lạc

Cho ngàn đời Âu Lạc âu ca

Cho ấm no khắp mọi nhà

Cho Kim Âu vững một tòa kim cương

 

“Chiếu Dời Đô” một chương gấm vóc

Ban bố cùng lối dọc đường ngang (80)

Gọi người dân nước Văn Lang

Theo xe vua ngự dời sang La thành

 

Đúng thế! “Cuộc hành trình cửa vũ”

Vượt vũ môn cá nọ nên rồng

Đại La thành hóa Thăng Long

Thập mục sở thịcánh rồng vươn mây

Thì ra đất La này vốn sẵn

Ngọa long kia từng dặm địa linh

Chỉ cần một thoáng duyên xinh

Là ngọa long thoắt trở mình xanh mây (90)

 

Năm: ngàn lẻ mười (1010) đầy kỷ niệm

Mở kỷ nguyên vinh hiển đại hùng

Nước nhà gặp vận Thăng Long

Ngàn năm sau vẫn biếc rồng xanh mây

 

Hôm nay kỷ niệm ngày lịch sử

Thủ đô ta vừa đủ ngàn năm

Ngàn năm hội mở hoa đăng

Ngàn năm quạt gió đèn trăng thuận tùy

 

Ngàn năm cuộc trường kì kháng chiến

Chống bao tên giặc tiến công hoài (100)

Một, quân xâm lược giặc ngoài

Lũ bầy lang sói đông đoài tứ phương

 

Hai, lũ giặc trong xương trong tủy

Giặc quan liêu thống trị bá quyền

Bất công xã hội nhãn tiền

Khiến kiếp người chẳng thấy quyền người đâu

 

*Nhược bồng: non bồng nước nhược, chỉ cảnh tiên

*Thập mục sở thị, thập thủ sở chỉ

Thập:Mười, hoàn toàn. Mục: mắt. Sở: cái ấy. Thị: thấy, nhìn. Thủ: tay. Chỉ: ngón tay, chỉ điểm.Thập mục sở thị, thập thủ sở chỉ là: mười mắt nhìn vào, mười tay chỉ vào. Ý nói: việc rất rõ ràng, mọi người đều thấy và biết, không thể chối cải được.

Ba, lũ giặc ẩn sâu nhiên giới

Những thiên tai hành tội con người

Khiến cho cái gọi cuộc đời

Thoắt trở thành ngục tối nơi Nhân Hoàn (110)

 

Bốn, tên giặc hung tàn rất mực

Bóng đêm trong tâm thức con người

Nó che ánh sáng tuyệt vời

Của chân thiện mỹ khiến đời tối tăm

 

Bốn tên giặc hung hăng lớn lối

Nó làm tình làm tội nhân sinh

Khiến nhân dân nước Việt mình

Suốt ngàn năm bận chiến chinh không ngừng

 

Cuộc chiến đấu vô cùng vinh hiển

Cuộc trường kì kháng chiến vô song (120)

Tự ngàn năm đất Thăng Long

Vẫn vươn mây vượt cổ rồng tâm linh

 

Với năm móng tượng hình năm đức

Một là Nhân: tâm thức vị tha

Năm châu bốn biển một nhà

Thương người như thể thương ta đại đồng

 

 

 

 

*Nhân hoàn: trần gian,cõi thế

Hai là Nghĩa: thủy chung như nhất

Đó là điều chi rất con người

Sắc son không đổi không dời

Quang minh như thể mặt trời mặt trăng (130)

 

Ba là Lễ: đạo hằng giữ mối

Có đầu đuôi, trên dưới, trước sau

Lễ nghi trang điểm địa cầu

Kỷ cương khéo dựng ngõ hầu văn minh

 

Bốn là Trí: chí linh, chí diệu

Giúp con người thấu hiểu uyên nguyên

Tới lui đúng lẽ kinh nguyền

Ở ăn khế hợp với thiên lương này

 

Năm là Tín: lời hay lẽ thật

Nói một lời là thật một lời (140)

Tín ngôn, tín ngữ tuyệt vời

Tín tâm, tín đức, đạo người Phương Đông

 

Ôi! Năm móng tượng rồng Âu Lạc

Thang Long thành bát ngát Văn Lang

Nắng soi năm móng rực vàng

Tự trong bản chất vốn đang là mình

 

 

 

 

Thiên nhân địa khéo linh, khéo ứng

Vận sơn hà khéo chứng khéo tri

“Chiếu Dời Đô” viết một khi

Xe dời đô chuyển một khi lên đường (150)

 

 

Thì “Rồng Việt” còn đương say giấc

Trong sâu lòng mạch đất anh linh

Chợt nghe tiếng gọi đăng trình

Của vua Lý gọi dân mình dời đô

 

Bèn thức giấc đương cơ thị hiện

Bay vượt lên uyển chuyển tầng xanh

Tượng hồn Lạc Việt tinh anh

Tượng tâm Lạc Việt chí thành thiên thu

 

Dấu ấn cuộc dời đô như thế

Mở ra chiều: cao; kế; sâu; xa(160)

Cao, vì nối với bao la

Sâu, vì nối với hải hà thâm uyên

 

Và xa! Tới vô biên vô tận

Đi tới hoài những dấn thân kia!

Không dừng bước lại mà chi

Cứ ôn cố thế để tri tân hoài

 

 

 

 

 

*Ôn:Học lại bài vở.  Cố: xưa, cũ, chuyện xưa. Tri: biết. Tân: mới.

Ôn cố tri tânlà xem xét lại những điều xưa cũ thì biết được nhiều điều mới.

Ôi! Những bước hoằng khai trí tuệ

Mở đường lên diệu đế tâm linh

Từ Thăng Long Đại La Kinh

Mà nam thiên nhất trụ hình thành sen!(170)

 

Đất nước trải nhiều phen đổi họ

Lý qua Trần, Trần nọ qua Lê

Dù bao biến dịch dường kia

Thăng Long vẫn vững lời thề nước non

 

Sông Nhị đó vững tròn viên nguyệt

Núi Nùng kia vẫn biếc thanh vân

Bao đời linh địa kiệt nhân

Võ công văn nghiệp mười phân vẹn mười

 

Lý Thái Tổ hoằng khai Công Uẩn

Dựng hoàng thành, mưu trấn Bắc Phương (180)

Tam Rùng thành quách biên cương

Vòng Ngoài, Vòng Giữadựng phường phố dân

 

Vòng Ba- hoặc Vòng Trong- cấm địa

Là nơi dành cho Lý hoàng gia

Thành khai bốn cửa vào ra

Đông tây nam bắc hợp hòa tứ phương

 

 

 

 

Qua bao cuộc tang thương biến đổi

Cung điện xưa còn mỗi dư âm

Trong trang lịch sử âm thầm

Điện Càn Nguyên dựng trung tâm núi Nùng (190)

 

Bên điện Tập Hiền cùng Giảng Vũ

Vọng một thời cẩm tú triều dương

Cũng vì vụ “Loạn Tam Vương

Mà bao cung điện khai sơn điêu tàn

 

Để, qua năm một ngàn hai chín (1029)

Thăng Long Thành nhất điện trùng tu

Trên nền điện Kính Thiên xưa

Dựng Thiên An điện nơi vua thiết triều

 

Bao cung điện sớm chiều dựng lại

Tỏa tinh thần phong thái Văn Lang (200)

Hàng hàng lầu các phong quang

Lại thêm miếu bạc chùa vàng nguy nga

 

 

 

 

*Loạn Tam Vương

Ngày 1 tháng 3 năm Mậu Thìn(1028), Lý Thái Tổmất. Triều thần đến cung Long Đứcđón thái tửLý Phật Mã lên ngôi, ba hoàng tử con Lý Thái Tổ và: Đông Chinh vương, Dực Thánh vương, Vũ Đức vươngkéo quân vây kinh thànhThăng Long. Bấy giờ các quan là bọn Lý Nhân Nghĩaxin Thái tửcho đem quân ra thành quyết được thua một trận. Khi quân của Thái tửvà quân các vương đối trận, thì quan Võ vệ tướng quân là Lê Phụng Hiểurút gươm ra chỉ vào Võ Đức Vươngmà bảo rằng:" các người dóm ngó ngôi cao, khinh dể tự quân, trên quên ơn tiên đế, dưới trái nghĩa tôi con, vậy phụng hiểu xin dâng nhát gươm này!". Nói xong chạy vào chém Võ Đức Vương ở trận tiền. Quân các vương trông thấy sợ hãi bỏ chạy cả. Dực Thánh VươngĐông Chinh Vươngcũng phải chạy trốn.

Thăng Long mới Đại La thành cũ

Nơi tàng long ngọa hổ ngàn năm

Trong veo một bóng trăng rằm

Cho bài thơ tuổi mười lăm ngọc ngà

 

Ngoài cung điện nghìn tòa kiến trúc

Thăng Long thành còn vút thăng hoa

Một nền văn hóa nguy nga

Với trang sử Lý triều qua Trần triều (210)

 

Với những trang “Thần Chiêu” thắng sử

Khi Thăng Long đem chữ Tâm Kinh

Là nguồn sức mạnh Tâm Linh

Dẹp tan Mông Cổ trường chinh địa cầu

 

Quân Mông Cổ đánh đâu thắng đó

Cả địa cầu dưới vó Hung Nô

Chỉ riêng mỗi một cơ đồ

Hãy còn đứng vững: kinh đô đại hùng

 

Kinh đô của vua Trần uy vũ

Trần Nhân Tông Điều Ngự Giác Hoàng (220)

Vị vua Hoạt Phật trần gian

Hiện thân Bi, Trí, Dũng Nam Phương này

 

 

 

 

Nhớ thuở nọ, cách đây sáu kỷ

Cõi Thăng Long hội nghị Diên Hồng

Tinh thần dân chủ phương đông

Tinh thần bình đẳng sắc không Phật Đà

 

Tinh thần lấy muôn nhà làm một

Lấy muôn dân làm cột làm rường

Lấy Phật tính làm quê hương

Kết nên một khối kim cương Đại Hùng (230)

 

Câu hỏi lớn: “giặc Mông Cổ mạnh”

Hỏi nhân dân: “ta đánh hay hàng”

Muôn dân- bô lão Hồng Bàng

Hiện thân trí tuệ Văn Lang toát vời

 

Cả trăm miệng một lời “Quyết Đánh”

Đánh để gìn đạo thánh Mâu Ni

Để gìn quê mẹ lưu ly

Để gìn chánh nghĩa từ bi rạng ngời

 

Lại câu hỏi: “giặc mười ta một

Hỏi lấy gì làm chước đấu tranh?” (240)

Trả lời: “lấy Đức Hy Sinh

Cộng thêm Nhẫn, Tuệ ắt thành đại công”

 

 

 

 

Và quả thế, Thăng Long thuở ấy

Đã một phen đứng dậy mà đi

Một cuộc đi thật thần kì

Rõ ràng châu chấu đá xe! Tuyệt vời!

 

Một cuộc đi ngàn đời có một

Cả địa cầu có một Văn Lang

Trước cơn lũ quét tan hoang

Mỗi còn đứng vững có “Tràng An kia”  (250)

 

Vì sao thế! Có chi đâu nhỉ?

Cũng chỉ vì bất nhị quân dân

Bất nhị quân, bất nhị thần

Vua tôi là một: nhất chân đồng bào

 

Dẫu đời có trước sau, trên dưới

Nhưng tâm chung một cội một nguồn

Đời Trần thể hiện yêu thương

Vua, tôi như thể thịt xương chung tình

 

Nên dân mới hy sinh cho nước

Vua mới chung nguyền ước với dân (260)

Và từng đoàn kết tương thân

Đã chung đúc những chiến công thần kì

 

 

 

 

Hội Diên Hồng phát huy chính nghĩa

Quân dân ta nhất trí một lòng

Mở tiền đề của thành công

Của kì công của chiến công vạn đời

 

Võ văn ấy sáng ngời non nước

Cho Thăng Long tung vượt ngàn mây

Một ngàn năm thế rồng bay

Vững ngời giữa cõi tâm này Lạc Long (270)

 

Hai Long ấy cùng song song thế

Một là Thăng Long địa anh hoa

Hai là Long- Lạc Long cha

Bên Âu Cơ mẹ hợp hòa Rồng Tiên

 

Trần tiên tỏa khí thiên long địa

Rạng ngời chân thiện mỹ văn minh

Rỡ ràng nhân kiệt địa linh

Thiên thu còn vọng lời kinh Giác Hoàng

 

Bên bến sông Bạch Đằng vang dội

Sông Nhị Hà sôi nổi Hùng Tâm (280)

Núi Nùng phơ phất Tần vân

Tiễn đưa những bước Huyền Trân dặm ngàn

 

 

 

 

*Địa anh hoa: chỉ vùng đất tốt đẹp nhất

Thăng Long thành chứa chan tú khí

Sinh ra em bất nhị đài sen

Sinh cô tố nữ sau rèm

Bước đi mỗi bước hồng sen trên đường

 

Ôi! Những bước trầm hương phúc tuệ

Bước trung trinh hiếu để Huyền Trân

Một lòng vì nước vì dân

Hai châu Ô Lý mười phân vẹn mười (290)

 

Gương Bồ Tát sống đời vui đạo

Nhớ thuở nào khoác áo thiền sư

Từ non Yên Tử thâm u

Nhưng đinh ninh nguyện vô ưu Niết Bàn

 

Song, trước nỗi lầm than đất nước

Khi giặc Nguyên xâm lược thừa cơ

Lẽ nào bỏ phận làm vua

Mà vui với cõi hư vô riêng mình

 

Đành dứt áo đoạn tình cõi Bụt

Trở về cùng vận nước phong ba (300)

Nên ngôi vua- có nghĩa là

Nghiêng vai gánh lấy Sơn Hà ngả nghiêng

 

 

 

*Tú khí: thanh tú, tốt đẹp

 

Rồi góp sức viết nên trang sử

Vô song trên toàn bộ Giao Châu

Vô song trên cả địa cầu

Cho Thăng Long mãi đẹp câu anh hào

 

Song, bên cái dũng cao như núi

Cái trí cao vời vợi như non

Còn thêm một nét vàng son

Cái tâm bi mẫn vuông tròn chúng sanh (310)

 

Cam cao tăng cho mình cho nước

Giúp giống nòi nhẹ bước về Nam

Bước chân công chúa đoan trang

Bông sen đẹp nhất của Tràng An xưa

 

Đi là bỏ cung vua điện chúa

Đi là rời đất tổ quê cha

Đi là xa nước xa nhà

Đi là để nhớ Sơn Hà nước Nam

 

Mỗi bước đi, một hàng lệ nhỏ

Huyền Trân ơi! Hiếu nọ tình kia (320)

Thăng Long một mái tóc thề

Thăng Long một bóng trăng thề… ngàn năm

 

 

 

 

Thăng Long một gương rằm lẻ một

Một ngôi Chùa Một Cột không hai

Thăng Long một bước tiên hài

Thăng Long một áng vân đài Huyền Trân

 

Từ vua Lý rời chân từ chốn

Hoa Lư kia cuồn cuộn cờ lau

Về nơi long mạch nghìn thâu

Nơi tứ bất tử xưa sau-vạn đời (330)

 

Ai quên được con người vĩ đại

Chú Bé thơ thần thoại nhân gian

Trong hư có thực muôn vàn

Thực mà hư- để thực càng thực hơn

 

Ai quên được Thiên Vương Phù Đổng

“Chú Bé” trong đời sống tâm linh

Của dân tộc Việt Nam mình

Một dân tộc của nòi tình Lạc Long

 

“Với mẹ Tiên cha Rồng trăm trứng”

Chú bé là Phù Đổng Thiên Vương (340)

Một làng thuộc Bắc Ninh xưa

Bên dòng Sông Đuống, cõi bờ Thăng Long

 

 

 

 

Thuở ấy thời Vua Hùng thứ sáu

Lũ giặc Ân cuồng bạo xâm lăng

Bấy giờ “Chú Bé ba năm”

Trước ba năm chẵn, chỉ nằm trong nôi

 

Thoắt ngồi dậy, rời nôi đứng dậy

Cất lời thưa: mẹ hãy xin vua

Một ông ngựa sắt thật to

Kèm roi giáp sắt dành cho con dùng (350)

 

Để đánh đuổi giặc Ân xâm lược

Đoạn, sau khi chén một bữa cơm

Vô cùng thịnh soạn tinh tươm

Ba nong cà, bảy nong cơm. Tuyệt vời!

 

Lại nóc cạn một hơi hồ nước

Rộng mênh mông phía trước cửa nhà

Rồi vỗ bụng, úm ba la

Vươn vai một cái, cao ba con sào

 

Rồi ba bước nhảy ào lên ngựa

Xông một lèo tới chỗ giao tranh (360)

Vung roi mặc sức tung hoành

Đánh cho lũ giặc tan thành bụi tro

 

 

 

 

Trong trận chiến bất ngờ roi sắt

Gãy làm đôi-và giặc thừa cơ

Xông lên như nước vỡ bờ

Bấy giờ Thánh Gióng cũng thừa cơ duyên

 

Mà cúi xuống nhổ luôn một bụi

Tre đằng ngà lớn trội mười ôm

Vung lên ngay giữa sa trường

Quét một quét sạch mười phương quân thù (370)

 

Dẹp xong giặc không chờ không đợi

Thẳng một lèo lên núi Sóc Sơn

Rồi chào đất mẹ quê hương

Rồi bay về cõi thiên đường xa xăm

 

Từ ấy cứ hàng năm lễ hội

Tưởng niệm người đánh đuổi giặc Ân

Hội mừng nô nức muôn dân

Với con ngựa trắng với ông hiệu cờ

 

Ngựa trắng tượng trưng cho linh khí

Cờ đỏ thì tượng ý nhân sinh (380)

Tháng tư lễ hội linh đình

Đền thờ Thánh Gióng lung linh vạn đời

 

 

 

 

Thăng Long thành ấy nơi quy tụ

Bao đền thờ miếu Vũ trang nghiêm

Nào đền đức thánh Tản Viên

Nào đền Liễu Mẫu nào đền Chử Quân

 

Riêng đền Thánh mười phân trang trọng

Với tượng thờ Phù Đổng hiên ngang

Tượng cao ba thước ngang tàng

Hai bên văn võ sáu quan đứng hầu (390)

 

Đền hiện tại còn lưu hai mốt (21)

Đao sắc phong xuyên suốt ba triều

Lê, Tây Sơn, Nguyễn nọ- đều

Qua tờ phong sắc tỏ điều tri ân

 

Đối với bậc thần nhân cứu nước

Phản ánh tinh thần một giống dân

Sống trong nếp sống kiệm cần

Nong cà cũng đủ nuôi thân anh hào

 

Lại tinh thần khát khao khoa học

Ngựa sắt kia làm mốc văn minh (400)

Giúp đời cải thiện nhân sinh

Lại thêm giúp nước giữ Kinh cõi bờ

 

 

 

 

Đền Phù Đổng hiện giờ còn giữ

Chiếc ngai thờ từ thuở Trưng Vương

Ngai thờ chạm trổ kỳ công

Biểu trưng nghệ thuật Tiên Long đặc thù

 

Bên những vũ khí xưa ngàn tuổi

Hãy còn đôi liễn đối Tố Như

Ngoài cái đẹp của lời thơ

Còn cái đẹp của chữ như Phượng Rồng (410)

 

Ôi! Cõi đất Thăng Long tú khí

Kể làm sao hết ý tâm linh

Một ngàn năm ngọc kết tinh

Những cành Dao những cành Quỳnh Phong Châu

 

Tứ bất tử nhiệm mầu oai lực

Cũng chính là tâm thức Văn Lang

Cái tâm thức của đá vàng

Cái tâm thức của hiên ngang tự hào

 

Cái tâm thức rạt rào nhân ái

Như “nhiễu điều phủ lấy giá gương” (420)

Cái tâm thức nó kim cương

A Di Đà Phật thiên lương rạng ngời

 

 

 

 

Ngoài Thánh Gióng con người thần thoại

Còn bao gương vĩ đại rất người

Những thiền sư đẹp nụ cười

Những trung thần đẹp gương đời trung trinh

 

Những thi nhân đẹp tình non nước

Những chinh phu đẹp bước quan hà

Ôi! Vô lượng những cánh hoa

Rạng ngời bốn đức mặn mà mười thương (430)

 

Những dấu ấn kim cương một thuở

Cõi thiền môn mở cửa tâm linh

Những bằng chứng của vô sinh

Chùa xưa còn đó tượng hình nhục thân

 

Trên khắp cả cõi trần băng hoại

Hỏi mấy ai trường tại như nhiên

Như hai di thể tọa thiền

Qua bao thế kỷ vẫn nguyên như là

 

Điều ấy nói rằng Hoa Linh Thoại

Đã từng phen nở tại Thăng Long (440)

Với hai nhục thể sư ông

Kim thân bất hoại kỳ công việc thiền

 

 

*Quan hà: cửa ải và sông; dùng để nói sự xa xôi cách trở.

 

*Hoa Linh Thoại: là một loài hoa quý được ghi lại trong sử sách, một ngàn năm mới nở một lần, khi hoa nở là báo hiệu một điềm lành cho nhân loại.

Như hình ảnh Nam Thiên Nhất Trụ

Nói lên niềm linh tú non sông

Hai hình ảnh khéo song song

Dáng sen duyên hựu bóng Rồng Đại La

 

Hễ nói đến gấm hoa triều Lý

Là triều vua khai thị Thăng Long

Làm sao quên được kỳ công

Của hai nhân vật anh hùng, anh thư(450)

 

Bậc anh hùng thờ vua giúp nước

Với lục thao tam lượcai bì

Một đời sinh một Sử Thi

Bình Chiêm phá Tống uy nghi một đời

 

Lý Thường Kiệt danh người trường tại

Với Thăng Long vạn đại bi hùng

Bình Chiêm phá Tống lẫy lừng

Sáu mươi năm hiển hách công rạng ngời

 

 

 

 

Lục thao, Tam lược. Đây là hai bộ sách thuộc về binh pháp cổ Trung Hoa.

  *Lục thao gồm: - Văn thao: dạy cánh thu phục nhân tâm,
- Võ thao: dạy cách định thiên hạ, giữ nước,
- Long thao: dạy cách kén chọn tướng,
- Hổ thao: dạy cách hành quân, tiến thoái động tĩnh theo thiên lý.
- Báo thao: dạy cách chiến đấu với địch, theo trạng thái biến hóa của địch.
- Khuyển thao: dạy cách huấn luyện quân sĩ.
*Tam lược: là mưu lược đánh trận gồm:
- Tướng lược: là mưu lược làm tướng,
- Quân lược: là mưu lược của quân sĩ,

- Trận lược: là mưu lược đánh trận.
 

Hăm bốn động một thời quy thiện

Cả năm châu, sáu huyện, ba nguồn (460)

Qua đời vua Lý Thánh Tông

Đến thời vua Lý Nhân Tông…lại càng

 

Lý, khi đó đương làm thái úy

Phò Nhân Tông tức vị ngai vàng

Lý triều ngày một vẻ vang

Lại thêm thái hậu Ỷ Lan khuông phù

 

Cho Đại Việt nghìn thu bất tử

Kế “lấy công làm thủ cao minh”

Lẫy lừng mười vạn tinh binh

Chia hai mũi tiến đánh thành Ung Châu (470)

 

Quét một trận sạch làu thành giặc

Cho bá quyền phương Bắc kinh man

Một phen thử lửa thử vàng

Mới hay Đại Việt phương Nam anh hùng

 

Bên cạnh đấng anh hùng Đại Việt

Bậc anh thư nhất tuyệt trên đời

Ỷ Lan, thôn nữ tuyệt vời

Ỷ Lan hoàng hậu tuyệt vời Nam phương

 

 

 

 

*Khuông phù: phò trợ, giúp đỡ,ủng hộ một triều đại (cũ)

*Ung châu:là một căn cứ xuất phát để đánh Đại Việt thời nhà Tống(Trung Quốc)

Tổ quốc mãi thêm hương quốc sử

Đó, dáng người phụ nữ kiên trung (480)

Đằng sau vĩ nghiệp anh hùng

Nữ trung hào kiệt nữ trung anh hào

 

Cô thôn nữ ngày nào cơ khổ

Sống bằng nghề dệt lụa quay tơ

Ngày vua cầu tự lên chùa

Bốn phương thiên hạ nức nô xếp hàng

 

Riêng người đẹp của làng Thổ Lổi

Vẫn an nhiên tựa cội lan vườn

Xem như mọi chuyện bình thường

Phong cách nọ khiến đế vương nể vì (490)

 

Bèn vời lại một khi thăm hỏi

Để được nghe lời nói đoan trang

Thốt bằng giọng nói đoan trang

Rõ ràng một đóa Tiên Long trên trần

 

Bèn lệnh rước Tiên Nhân đồng nội

Về Thăng Long bạn với quân vương

Ỷ Lan từ ấy tên nàng

Phu nhân từ ấy phận nàng bên vua

 

 

 

 

Sử chép rằng ngay từ buổi nọ

Ỷ Lan đà chứng tỏ lương năng (500)

Ngoài phần hầu hạ gối chăn

Nàng còn tranh thủ siêng năng học hành

 

Để sớm hội cho mình tứ đức

Công dung ngôn hạnh thật viên toàn

Từ đâu có một Ỷ Lan

Ra, tự sức sống bạt ngàn Thăng Long

 

Sức sống ấy như rồng bay vượt

Từ khí linh non nước Văn Lang

Hạt nhân sức sống nhân gian

Cái tung hô, cái bạt ngàn nhân sinh (510)

 

Cái tươi khỏe, cái trinh cái hạnh

Cái tiền đề công hạnh ngôn dung

Thiên thu sông Nhị núi Nùng

Kết tinh trong một bông hồng anh hoa

 

Từ một bước vượt qua cửa vũ

Cá gáy kia, cô thôn nữ này

Vươn lên giữa hội rồng mây

Thắp đèn thâu tháixưa nay đạo người

 

 

 

 

*Đèn thâu thái: thâu thái có nghĩa là góp nhặt lại,(thường nói về văn hóa, tri thức)

 Đèn Thâu Thái: ý nói đèn tri thức.

 

Để bủa đức khắp nơi khắp chốn

Cho nở hoa rau muống bờ xuân (520)

Tỏa ngời chín sắc tương lân

Xóa xu xóa thuế cho dân mất mùa

 

Lại xuất của công mua chuộc lại

Những cơ mang phận gái nô tỳ

Bị cha mẹ nghèo bán đi

Phục hồi nhân phẩm cho về kết hôn

 

Cả một khối tình tương lân nọ

Của những người cùng khổ cùng đau

Cùng nơi cắt rốn chôn nhau

Đoạn trường ai có qua cầu mới hay (530)

 

Triều vua Lý những ngày hưng thịnh

Triển oai thần bình định phương Nam

Kỳ công nhất chính Ỷ Lan

Nghìn năm tạc đá ghi vàng sử xanh

 

Ôi! Cõi đất địa linh nhân kiệt

Nói sao cho hết những lời thơ

Thưa, đâu phải sự tình cờ

Nghìn năm tiếng mẹ, triệu tờ chữ Nôm

 

 

 

 

Hồn dân tộc thơm hương ngát vị

Điệu thơ Nôm thủ thỉ Hàn Thuyên (540)

Bên cung ngủ, thức triền thiên

Là cung lục bát triền miên điệu vần

 

Ngoài một Trần Nhân Tông thi sĩ

Đưa thơ Nôm lên vị trí thiền

Còn bao thi thánh thi tiên

Thi thần thi Bụt khắp miền Thăng Long

 

Sao quên được những vần hào khí

Trần Khánh Dư vịnh kẻ bán than:

Một gánh kiền khôn quảy xuống ngàn

Hỏi chi bán đó? Gởi rằng than (550)

 

Ít nhiều miễn được đồng tiền tốt

Hơn thiệt nài bao gốc củi tàn

Ở với lửa hương cho trọn kiếp

Thử xem sắt đá có bền gan

 

Nghĩ mình len luốc toan nghề khác

Song ngại trời kia lắm kẻ hàn

Nhưng vẫn nén ngọc gieo vàng

Hạo nhiên khí tỏa cung đàn nam nhân

 

 

 

 

Chữ dung dị như gần như gũi

Mà thầm thì vươn tới Đẩu Ngưu(560)

Khác chi long mã long câu

Tung bốn vó vượt nghìn dâu biển trời

 

Thơ ấy chính lòng người vận nước

Một khi thơ mà vượt Tràng Giang

Mà vượt thập vạn đại san

Thì lòng người, vận nước càng hiển linh

 

Mà thơ của nước mình thuở ấy

Của Thăng Long thành ấy thuở xưa

Thì bừng hạo khí đương cơ

Xênh xang nhật nguyệt, ngọn cờ rồng bay(570)

 

Lý, Trần, Lê đẹp thay hồn nước

Lê Thánh Tôn thơ vượt Nùng sơn

Hào hùng áng áng thơ Nôm

Câu thơ Nguyễn Trãi điệu đờn Thăng Long

 

Côn Sơn có suối nước trong

Ta nghe suối chảy như cung đàn cầm

Ức Trai viết Quốc Âm Thi Tập

Tiếng nước Nam hồn Phật mênh mông

 

 

 

 

 

*Dung dị: bình thường và giản dị

*Thập vạn đại san:thập;mười. vạn;10ngàn, đại; lớn. San; núi. Chỉ sự gian nan cách trở trùng trùng.

Ảnh nước non in một đóa hồng

Chẳng nhơ chẳng bợn Bụt là lòng (580)

Chiều mai nở chiều hôm lại rụng

Sự lạ cho hay tuyệt sắc không

Kinh rằng sắc tức thị không

Thơ rằng sự lạ tuyệt không sắc này

 

Hoa ảnh ấy, chăng hay nghĩa sống

Có mà không lồng lộng huyền vi

Bài thơ tứ tuyệt lâm li

Chở chuyên thực chứng Mâu Ni não nùng

 

Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt

Mối thù nhà thi thiết khôn khuây (590)

Lại thêm nợ nước sâu dầy

Thăng Long ơi! Bóng rồng bay tịt mù

 

Vì không có nhân như thế thế

Nhân là dòng dõi thế gian kia

Thung Huyên vạn vẻ đôi bề

Trần là họ mẹ Nguyễn là họ cha

 

 

 

 

*Thung:là loại cây to sống lâu năm, nên được ví với người cha vì con cái muốn cho cha sống lâu.

* Huyênlà cỏ huyên, chỉ người mẹ. Thung đường là nhà thung, chỉ người cha.Huyên đường là nhà huyên, chỉ người mẹ.Thung huyên là chỉ cha mẹ.

Lại chẳng có Đại La linh địa

Nơi kết tinh đôi vế Tiên Rồng

Tiên cho thẳm biếc lam hồng

Rồng cho dạ thép gan đồng hạo nhiên(600)

 

Lại như chẳng có thêm duyên hóa

Ấy là cơn quốc phá gia phong

Để nung nấu chí anh hùng

Vì chân quốc nạn thất trung nghĩa thần

 

Phải ngần ấy những nhân duyên lớn

Mới hình thành bậc đại trượng phu

Đan tâm nhất phiếnngàn thu

Bình Ngô Đại Cáo một tờ tuyên ngôn

 

Nói lên cái quốc hồn Đại Việt

Cái tinh thần tự quyết Văn Lang(610)

Sống hào hùng sống vinh quang

Đội trời đạp đất hiên ngang Tiên Rồng

Toàn bộ lợi nhuận của công ty cổ phần Đại Nam không chia cho cổ đông. Lợi nhuận sau khi tái đầu tư, công ty sẽ dành 100% lợi nhuận còn lại cho quỹ từ thiện Hằng Hữu hoạt động vì cộng đồng, đặc biệt là chương trình mổ tim dành cho trẻ em