Trường ca Thăng Long - Quyển 2 - Phần 1

Trường ca Thăng Long - Quyển 2 - Phần 1

LỜI THƯA

    Nếu nói đến kinh đô có một ngàn năm (1000) tuổi thì trên trái đất không phải là không có- nhiều hơn nữa cũng có. Nếu nói về một kinh đô đủ tiêu chuẩn về (địa lợi) hiểu theo nghĩa “phong thủy” lẫn nghĩa vị trí địa dư thì trên trái đất này ngoài Thăng Long, cũng không phải là không có.

     Lại nói đến một kinh đô mà tự thân đã trải qua nhiều biến cố, nhiều cuộc bể dâu. Lại nói đến một kinh đô mà nơi có quy tụ được nhiều anh hoa của một nước…

     Tuy nhiên, kinh đô Thăng Long của chúng ta, bên cạnh những điều đã nói trên, vẫn còn những nét đặc thù khác, khiến góp phần nổi trội. Trong đó có một đặc thù tiêu biểu nhất này. Một ngàn năm trước, song song với việc vua Lý dời đô về Đại La Thành để rồi gặp lại Rồng và đặt lại hiệu thành là Thăng Long, và việc đi thỉnh ba tạng kinh Phật về. Để cho từ đấy cả nước Văn Lang thấm nhuần Phật Đạo. Để từ đấy thêm nếp sống của Thăng Long. Bấy giờ và mãi mãi, thấm đẫm đạo Từ Bi. Dấu ấn của Bi- Trí- Dũngkhắc sâu trong đời sống của dân tộc Việt, của Thăng Long Thành, khiến nó giải mọi tai ương “độ nhất thiết khổ ách”.

   Từ cội nguồn ấy mà bao nhiêu công oanh liệt, bao thành tựu văn hóa đã được hình thành, thể hiện những kì công kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, thi ca.

   Tất cả kết nên thành một khúc đại hùng ca của Thăng Long Thành, của giống nòi Lạc Việt, như đã phản ảnh trong muôn một. Qua tập thơ bé mọn này.

 

 

 

                                                                                Cẩn bút

                                                                        Huỳnh Uy Dũng

TRƯỜNG CA THĂNG LONG

QUYỂN 02

 

“…Cá tươi xâu liễu* người về gấp

Rượu chín nồng hoa khách ở chầy

Điểm nọ cờ còn quấn gió

Lều kia rèm đã cuốn mây

 

Ông nào* thổi địch thảnh thơi tá

Cỡi Hạc bay về ngàn núi tây”

Rõ ràng một bức tranh mây

Vẻ xưa còn thoảng gió bay ngọn cờ

 

Ông nào thổi địch lơ thơ tức

Cưỡi Hạc vàng thoát tục về tiên(10)

Trong tâm của bậc nhân hiền

Một trang thơ vọng Nam Thiên nhất tình

 

Nho Phật Lão hòa minh tuyệt diệu

Xuất xứ tròn Vi Tiếu Niêm Hoa

Bài thơ “Chó Đá” ngâm nga

Phiến đan tâm những thiết tha đạo người

 

*Cá tươi xâu liễu: dùng cành liễu xâu cá để xách

*Ông nào: chỉ ông tiên cưỡi hạc vân du

Niêm hoa vi tiếu: Niêm: Cầm đưa lên. Hoa: cái bông. Vi: nhỏ. Tiếu: cười. Niêm hoa: cầm cái hoa đưa lên. Vi tiếu: cười mỉm.

Niêm hoa vi tiếu: nói đầy đủ là: "Thế tôn niêm hoa, Ca Diếp vi tiếu." Nghĩa là: Đức Phật Thích Ca cầm cái hoa đưa lên, ông Ma Ha Ca Diếp mỉm cười.

 

 

 

Lần kể xuân thu biết mấy mươi

Cửa nghiêm thăm thẳm một mình ngồi

Đêm thanh nguyệt dãi màng trông nguyệt

Ngày vắng ruồi bâu biếng ngáp ruồi(20)

 

Cắn kẻ tiểu nhân, nào đoái miệng

Chào người quân tử chẳng phe đôi

Phỏng trong sức có ngàn cân nặng

Dầu nhẫn* ai lay cũng chẳng dời”(*bất cứ)

 

Xuân thu biết mấy mươi lần lữa

Chó đá kia giữ lửa cho người

Trong im lặng chẳng tiếng lời

Trong vô vi chẳng ngoắt đuôi há hàm

 

Mà sức phỏng ngàn cân nặng

Như tấc lòng dãi nắng dầm mưa(30)

Trong tâm soi mấy cho vừa

Nhục ấy, ty ấy: bài thơ Lạc Hồng

 

Vĩ nghiệp của Thánh Tông thời ấy

Khởi từ tâm ấy vậy- thành thơ

Những vần thơ phất ngọn cờ

Nghìn năm “thiên hạ bản đồ nguy nga

 

 

Thông minh lạ mà trung liệt

Bao anh hùng hào kiệt nơi

Thảy đều quy phục một người

Trăm hoa đua nở đẹp trời Đại Nam(40)

 

Tóm lại nước Văn Lang thời ấy

Quê là cường thịnh vậy-trăm xưa

Cũng không lớn được bây giờ

Trăm sâu dễ có cõi bờ nào hơn

 

Thuở bình trị nhớ ơn phục quốc

Bình định vương nếm mật nằm gai*

Nước loạn sinh bậc hung tàn

Lê Lợi, Nguyễn Trãi xứng vai Quân Thần

 

Câu: “Lê Lợi minh quân” khắc rõ

Nguyễn Trãi vi thần há dám quên(50)

Ức Trai xứng bậc nhân hiền

Còn hơn một ngọn đứng trên Nhân Hoàn

 

Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”*

Lời thơ xưa chở đạo thủy chung

Anh hùng mới biết anh hùng

Thánh Tông tâm thượng sánh cùng Đẩu Ngưu

 

*Thành ngữ: nếm mật nằm gai hay Nằm gai nếm mật, là ý nói: Chịu đựng tất cả gian khổ để mưu đồ việc lớn.

*Tấm lòng ức Trai sáng tựa sao Khuê

 

 

Những dấu ấn của bao vua thánh

Bao tôi hiền lấp lánh trăm xưa

Mãi còn đậm nét trong thơ

Mãi còn đậm nét trong tờ cảo thơm(60)

 

Sao quên được thơ Nôm Nguyễn Trãi

Những vần thơ trường tại thiên thu

Tế độ gốc rễ Tỳ Khưu

Phiến đan tâm vọng thái hư ba nghìn

 

*“Tự bén hơi xuân tốt lại thêm

Đầy buồng lạ, màu thâu đêm

Tình thư một bức phong còn kín

Gió nơi đâu gượng mở xem

 

Mỗi bốn câu vừa quen vừa lạ

Chở cả niềm vàng đá trăng sao(70)

Bao trung kiên bấy tự hào

Bao thăm thẳm bấy dạt dào mênh mông

 

Tự bén hơi xuân” lòng tự chủ

Tự sức mình chẳng dựa vào ai

Khác chi lời Phật Như Lai

Hãy tự mình thắp đđuốc khai đường mình

*Bài thơ Ba Tiêu(cây chuối)- Nguyễn Trãi

*Buồng: Hiện đã có hai cách hiểu: buồng là buồng chuối, buồng là buồng ở của người con gái (cách hiểu của nhà thơ Xuân Diệu).

*Màu Ở đây có nghĩa là mùi (có người muốn hiểu thêm nghĩa mầu nhiệm).
*Tình thư một bức phong còn kín. Câu này có ý ví nõn chuối non cuốn như bức thư tình còn phong kín. Người xưa đã có vế câu đối treo trong nhà: Thư lai tiêu diệp văn do lục (Thư viết trên lá chuối gửi đến lời văn còn xanh).

*Gió nơi đâu, gượng mở xem.Ý câu này: gió xuân nhẹ thổi đến làm nõn chuối mở dần ra.

Hãy tự trưởng, tự thành, tự lực

Hãy tự mình cứu lấy được mình

“Đầy buồng lạ” ngát hương linh

“Tình thư một bức phong” trinh nhụy này(80)

 

Bức tình thư chở đầy non nước

Bao can trường của một vĩ nhân

Một lòng vì nước vì dân

Chí trung, chí nghĩa, chí nhân, chí thành

 

Bài thơ đẹp long lanh hoa gấm

Đóa hoa tình phong vận Thăng Long

“Ảnh nước hoa in một đóa hồng

Vẩn nhơ chẳng bợn, Bụt là lòng

Chiều mai nở, chiều hôm rụng

Sự lạ cho hay tuyệt sắc không”*  (90)

Như Thăng Long vậy: đóa hồng

Hoa in ảnh nước sắc không tuyệt vời

Trong veo lòng Bụt, lòng người

Trong vô thường có nụ cười chân như

 

Thơ như thế, đạo từ như thế

Nghĩa Từ Biđấy Hỉ Xảkia

Thăng Long rợp bóng Bồ Đề

Đạo mầu che chở cho quê hương mình

 

*Bài thơ Cây Mộc Cận, (hoa Bông Bụt)-nguyễn Trãi)

Ngưỡng đọc lại “Chí Linh Sơn Phú(Nguyễn Trãi)

Để nghe tài đức của Lam Sơn (100)

Đồng thời tài đức Côn Sơn

Thiên thu Nhật Nguyệt biểu dương quân thần

 

“Rồng thiêng dậy, bay rợp Lam Kinh

Giáo trời chỉ, dẹp tan Bắc binh

Vận nước thành công nhiều khó nhọc

Miền Tây sông núi hẳn anh linh

Ôi ! vua ta tài thánh vũ

Đứng lên bốn phương kinh dinh

Vận nước gian truân, khổ tâm lo tính

Thấy lẽ tất yếu của trời càng quyết chí để nghiệp thành (110)

Nhờ thế ngày nay Hồ Việt được một nhà

Mà núi sông này cũng lưu danh muôn thuở

Khi nghĩa quân mới dấy là lúc, thế giặc đương hăng

Anh hào cả nước lưa thưa như lá thu gặp sương

Chí nuốt giặc Ngô, ai Chủng, ai Lãi

Mưu dựng nghiệp Hán, ai Bình, ai Lương

Vua ta ẩn náu núi này, đành bặt tăm hơi, bưng kín ánh sáng

Vợ con lưu lạc, quân sĩ tha phương

Trong cảnh khốn vẫn bền lòng, vẫn tin ở ngày hưng vượng

Lấy giáo sắt làm áo mặc, lấy rễ lau làm quân lương (120)

Chí rộn ràng lo khôi phục, lòng u uất thực khôn lường

Tưởng núi này lúc ấy, khác nào đất Mang Đăng, khi Hán hoàng khởi nghiệp

Biết người, biết mình, khi mềm, khi mạnh

Chờ thời, rình mệt, giấu nhọn, che sắc

Gối củi nằm gai, ngậm đắng nuốt cay

Lo rửa nhục trước, giành lấy lại, quê hương

Tưởng núi này khi đó khác nào đất Cối K thời Việt vương ẩn nu

Thế rồi, thu nhặt tàn quân, nuôi dưỡng n cần

Trong sửa chiến cụ, ngồi giả hịa thn

Quyntiền mộ lính, giết voi khao qun (130)

Ai cũng thân người trn, chết cho người trưởng, cố sức để đền ơn…”

Những câu phú đẹp phi thường

Lời lời châu ngọc, hàng hàng thép gang

 

Đôi nét bút chấm ngang phá dọc

Đủ vẻ nên gấm vóc một thời

Là thời oanh liệt nhất đời

Vua Lê thắp đuốc mặt trời Chí Linh

Dậy Rồng thiêng, Lam Kinh bay rộp

Chỉ giáo trời dẹp cướp Bắc binh

Bốn phương tám hướng kinh dinh (140)

Nằm gai gối củi, quyết dành tự do

….Từ đấy, luyện quân kén tướng, đánh địch ra kỳ

Chết vinh hơn sống nhục, biết quân ta dùng được

Lấy của giặc đánh giặc, thu quân lương vũ khí

Vẹn tòan vững kế, một mũi tên không để phí

Cầm Bành đạp đầu dâng đất

Phương Chính khiếp vía chạy dài

Bèn giữ hiểm để lập công

Lại nhiều phương lừa đánh địch

Đêm lửa đốt, ngày cờ bay (150)

Sớm chiếm Đỗ Gia, giành thế tiện trên núi ấy

Trước vượt Khả Lưu, đánh đắm địch trên sông này

Nhưng thịnh đức của Vua ta ngày nay,

Chỉ qui mô rộng lớn của Hán Cao Tổ mới sánh kịp

Còn như Câu Tiễn mài chí phục thù là đáng kể,

Thì trong muôn phần không so được với Vua ta

Đến như: uy thần chẳng giết, đức lớn hiếu sinh

Nghĩ kế nước nhà trường cửu

Tha cho mười vạn hàng binh

Gây lại hòa hảo hai nước (160)

Dập tắt chiến tranh cho muôn đời

 

Muốn đạt được thái bình thịnh vượng

Trước phải lo kén tướng chọn quân

Ức Trai liệu việc như thần

Sâu xa tam lượcthâm trầm lục thao

 

Lấy giáo giặc đâm vào tim giặc

Cướp quân thù vây chặt quân thù

Giặc cương ta dụng kế nhu

Lấy yếu thắng mạnh binh thư đại hùng

 

*Lục thao, Tam lược. Đây là hai bộ sách thuộc về binh pháp cổ Trung Hoa.

  *Lục thao gồm: - Văn thao: dạy cánh thu phục nhân tâm,- Võ thao: dạy cách định thiên hạ, giữ nước,

- Long thao: dạy cách kén chọn tướng,

- Hổ thao: dạy cách hành quân, tiến thoái động tĩnh theo thiên lý.- Báo thao: dạy cách chiến đấu với địch, theo trạng thái biến hóa của địch

.- Khuyển thao: dạy cách huấn luyện quân sĩ.
*Tam lược: là mưu lược đánh trận gồm:- Tướng lược: là mưu lược làm tướng,- Quân lược: là mưu lược của quân sĩ,- Trận lược: là mưu lược đánh trận.
 

Thà chết vinh còn hơn sống nhục (170)

Cả tứ dân nô nức lên đường

Niệm câu vô úy tự cường

Đuổi quân xâm lược Bắc phương chạy dài

 

Thịnh đức ấy sánh vai cao tổ

Chí phục thù để đọ Chí Linh

Lại thêm đức lớn hiếu sinh

Tha cho mười vạn hàng binh quy hàng

 

Ấy thực kế vẹn toàn sau trước

Dũng, nhân mà gồm một Chí Linh

Địch phải theo thượng sách:  (180)

Hai nước vẹn toàn dân được an ninh

Như thế thì thịnh đức của Vua ta

Cao Tổ nhà Hán sao sánh kịp

Vua ta phải sánh ngang hàng với hai đế ba vương lừng danh thuở trước

Than ôi! Xưa nay đi lại, trăm đời nên nghĩ

Nghiêu nổi dậy từ Đường hầu, Thuấn khởi dậy tự hàn vi

Thành Thang dấy nghĩa nơi đất bạc

Thái vương khởi binh tại núi Kỳ

Nhiều hoạn nạn là nền dựng nước

Lắm lo toan là gốc trị vì (190)

Biến cố trải nhiều thì suy nghĩ sâu

Mọi việc lo trước thì thành công kỳ

Nối nghiệp đế vương, không thể khác thế

Vậy thì vua ta dựng nghiệp thật đã tự núi này trở đi

Công lao đức cả của vua ta cũng sẽ cùng núi này hùng vĩ muôn đời

Bèn cúi đầu chắp tay, dâng lời ca rằng:

Trời sinh vua thánh, đất dấy nghiệp vương

Càn Khôn mờ mịt, vận hội phi thường

Nhìn Linh Sơn cao vút, nhớ những ngày gian khổ

Vỗ nghiệp vương bền vững, không một ngày xao lãng (200)

Xin ghi thịnh đức vào đá, lưu truyền bất hủ

Ngàn vạn đời sau, vẫn cùng trời đất dài lâu.”

Vẫn cùng trời đất dài lâu

Mười năm kháng chiến công đầu Chí Linh

 

“Nhiều hoạn nạn là nền dựng nước

Lắm lo toan là gốc trị vì”

Ấy là định luật huyền vi

Nối nghiệp vương đế một khi muôn đời

 

Biết “thắng” để giữ ngôi tự chủ

Lại biết “tha” để giữ hòa bình (210)

Tới lui xuất xử vẹn tình

Người như thế, dễ nhân sinh mấy người

 

Ngẫm hào kiệt trên đời mấy kẻ

Từ Thuấn Nghiêu cho chí Thành Thang

Bảy vùng hai đế ba vương

Dễ ai sánh được Linh Sơn anh hào

 

Nhân trí dũng nêu cao Lạc Việt

Thực hiện tròn học thuyết Tam Cương

Càn Khôn vận hội phi thường

Linh Sơn cao vút nghiệp vương vững bền (220)

 

Ấy thánh đức rất nên Thái Tổ

Biểu dương bằng bài Phú Linh Sơn

Của ngôi đệ nhất Văn Xương

Chở tâm trong cả Việt hồn bao la

 

Ôi! Bài phú nguy nga non biển

Cuộc trường kì kháng chiến uy linh

Mười năm xương máu hy sinh

Mười năm mình khẳng được mình kim cương

 

Bài phú Chí Linh Sơn vĩ đại

Áng hùng thi trường tại thiên thu (230)

Mỗi vần nén ngọc Giao Châu

Áng thơ Nôm tiếng mẹ lần ngân nga

 

Kho quốc ngữchữ mà không vận

Lời mà hoa mà gấm mà thơ

Thơ Lê đẹp tự ngàn xưa

Thơ Lê đẹp giữa bút tờ muôn sau

 

 

Ôi! Nguyễn Trãi công đầu ngôn ngữ

Lại công đầu văn tự Hán Nôm

Một lòng thiết thạch khai sơn

Một tâm chở cả Càn Khôn bi hùng (240)

 

Lại chở cả núi Nùngsông Nhị

Bốn ngàn năm lưu thủy hành vân

Câu thơ phơ phất diệu thần

Lại thêm câu phú mười phân vẹn mười

 

Thăng Long thành dưới thời Lê hậu

Đẹp vô cùng Đại Cáo Bình Ngô

Hùng văn đệ nhất thiên thu

Chở hùng tâm cả cơ đồ Việt Nam

 

Phản ánh cả can trường dân tộc

Liều thân vì độc lập tự do (250)

Lại đồng thời biểu dương cho

Đỉnh cao tâm thức đại từ đại bi

 

Cái tâm Bụt thuận tùy thể hiện

Những ngàn năm văn hiến Đại Nam

Đến thơ Nôm Nguyễn Trãi càng

Nguy nga thể hiện hàng hàng Hán Nôm

 

 

 

Ngậm ngùi, thế những chương thơ Việt

Tâm sự kia trăm thiết nghìn tha

“Trên vì nước dưới vì nhà

Lòng này ai tỏ cho ta khởi lòng”(260)

 

Ngày tháng kê khoai; những sản hằng

Tường đảo ngõ mận ngại thung thăng

Đạo ta cậy bởi chân non khỏe

Lòng thế tin chi mặt nước bằng?

Trì cỏ được câu ngâm gió

Hiên mai cầm chén hỏi trăng

Thề cùng Viên Hạc, trong hai ấy

Thấy có ai han chớ đãi đằng

 

Đạo ta cậy bởi chân non khỏe

Sao lời thơ tráng lệ niềm tin (270)

Tin vào cái thiện cái hiền

Cái “nhân chi sơ” nó đẹp thiên lương này

 

Vì tin thế nên người trong cuộc

Dù sống trong Ngũ Trượccõi này

Vẫn tung tăng với tháng ngày

Vẫn cầm chén hỏi trăng rầy hiên mai

*Tường đào ngõ mậnÔng Địch Nhân Kiệt hay tiến cử người hiền, nên đời khen là đào lý tại công môn  nghĩa là người hiền đều ở cửa ông ấy cả.

Chân non khoe:Chân núi vững chắc. Khổng Tử  "Trí giả nhạo thuỷ, nhân giả nhạo sơn" (Người trí thích nước, kẻ nhân thích núi). Đạo cậy về nhân (như chân núi vững chắc), lòng người khó tin (như mặt nước phẳng lặng).

Trì cỏ: Tạ Huệ Liên (394-430) lên 10 tuổi đã nổi tiếng văn hay. Anh họ Tạ Huệ Liên là Tạ Linh Vận (385-433) nói "Chỉ đứng trước mặt Huệ Liên là được câu hay". Một hôm, cả ngày tìm tứ thơ mà không được gì, chợt nhớ đến Huệ Liên thì nghĩ ra câu đắc ý "Trì đường sinh xuân thảo" (Bờ ao sinh cỏ xuân).

Câu ngâm gio:Tạ Đạo Uẩn có câu thơ tả tuyết rơi rất nổi tiếng: liễu nhứ nhân phong khởi (bông liễu bay khi gió nổi).

Viên Hạc: Vượn và hạc. Dương Hựu, đời Tống, chỉ thích đọc sách ngâm thơ, làm bạn với vượn và hạc.

 

Cái thanh thản đứng ngoài danh lợi

Chữ nhân tâm vời vợi Thăng Long

Phò vua chi xá kể công

Giúp đời chi xá mỏi mong đáp đền (280)

 

Cái tâm thức tinh truyền châu ngọc

Một vần Nôm gấm ngọc anh hoa

Thăng Long văn hiến Sơn Hà

Bài thơ tiếng mẹ lụa là quê hương

 

Thử nghe tiếp tiếng chuông Nguyễn Trãi

Vọng tinh thần tự tại tiêu diêu

Ngẫm ngợi sơn lâm mấy thị triều

Nào đâu chăng là đất Đường Nghiêu ?

Người tham phú quý người hằng trọng

Ta được thanh nhàn Ta xá yêu (290)

Nô bộc ắt còn hay rặng quýt

Thất gia chẳng quản một con lều

Miễn là kêu sái qua ngày tháng

Lộc được bao nhiêu ăn bấy nhiêu

Một niềm tâm sự tiêu diêu

Một niềm tâm sự cô liêu bạn đời

 

Đời là thế bấy nhiêu kịch bản

Lúc gian nan thì bạn thì bầu

Đến khi nên cuộc sang giàu

Nhất là nên cuộc công hầu bá vương (300)

Thì được cá quăng Nôm: chẳng lạ

Khi được chim quăng Ná: âu thường

Huống hồ con Hạc giữa chuồng

Huống hồ cây Quế tiên non- huống hồ

 

Tài trí đã phân phô đến thế

Công lên càng “kể lể” dường kia

Thì… cây cao lắm làm chi

Thì… hoa đẹp lắm, có khi… dễ tàn

 

Đời là kết bằng tham với đố

Cộng chút sân si nữa đúng chăng?

Sân si tật đố lẽ hằng

Trâu cột nó ghét, trâu ăn thói thường (310)

 

Sao thương quá là thương tâm sự

Bậc anh hùng bất tử Việt Nam

Thiên thu Ngựa đá Âu vàng

Khói sương đồng vọng cung đàn tuệ tâm

 

 “Ở chớ nề hay, học cổ nhân

Lánh mình cho khỏi áng phong trần

Chim kêu cá lội an đời phận

Câu quạnh cày ngàn dưỡng mỗ thân

Nhà ngặt, túi không tiền mẫu tử

Tật nhiều, thuốc biết vị Quân Thần (320)

 

Ấy còn lẵng đẵng làm chi nữa

Sá tiếc mình chơi áng thủy vân”*

 

Thơ rằng “học lấy cổ nhân

Ấy câu “minh triết bảo thân nghìn vàng

Công thành thân thoái” mới an

Công thành thân tiến” vẹn toàn khó nên

 

Nhà ngặt túi không tiền mẫu tử

Tật nhiều thuốc biết vị Quân Thần

Một đời vì nước vì dân

Một phen gầy dựng Long Vân Hộinày (330)*

 

Nay tổ quốc tới ngày khôi phục

Nay Sơn Hà tới lúc vinh quang

Nguy nga biển bạc rừng vàng

Thuở công lên nọ, tức gan ai bì

 

Nhưng… thế thế thời thì thì

Xưa …Tử Phòng* rõ nghĩa an nguy

Giúp xong việc hậu một khi

Mau mau trở bước cáo về nước non

*Mạn Thuật 07(Áng Thủy Vân)- thơ Nguyễn Trãi.

Câu Quạnh Cày Nhàn: Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi, trong bài Đề Từ Trọng Phủ canh ẩn đường có câu "Bản thị canh nhàn điếu tịch nhân" (Ta vốn là kẻ cày nhàn câu tịch).

Tiền Mẫu Tử: Tiền vốn tiền lãi.

Vị Quân Thần: Phép chế thuốc Đông y chia làm 4 vị: quân, thần, tá, sứ (vị chủ, vị thứ hai, vị phụ giúp, vị dẫn thuốc). Bệnh nhiều nên biết rõ cả các vị thuốc.

 

*Long Vân Hộihàm nghĩa rồng mây gặp hội, ý chỉ sự gặp gỡ may mắn, sự thỏa nguyện những ước vọng lớn lao.

 

*Trương Lươngtự là Tử Phòng, là dòng dõi sĩ tộc nước Hàn thời Chiến Quốc. Tổ tiên làm khanh sĩ nước Hàn, là văn thần có công giúp Lưu Bang đánh đổ nhà Tần và thắng Hạng Vũ trong chiến tranh Hán Sở sáng lập ra nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc.

 

Nay Nguyễn Trãi chút còn vương vấn

Nợ Quân Thầnlấn bấn đôi vai (340)

Khiến cho nghiệp chướng dong dài

Cho non nước để tay ai vạn đời

 

Xin nghe thử đôi lời thơ nữa

Hoa vuông tròn hơi thở thiên thâu

Chân chăng lọt đến cửa vương hầu

Ấy tuổi nào thế đã bạc đầu!

Liệu cửa nhà xem bằng quán khách

Đem công danh đổi lấy cần câu

Thân đà hết lụy thêm điều nhẹ

Bụt ấy là lòng, Bụt há cầu (350)

Bui một quân thân ơn cực nặng

Tơ hào chưa báo hãy còn âu”*

Ấy vì nghĩa nặng tình sâu

Tơ hào chưa báodãi dầu tấc son

 

Ôi! Những áng thơ Nôm Nguyễn Trãi*

Nói lên điều vĩ đại trưởng thành

Của ngôn ngữ mẹ trong lành

Vút lên đọ biết với xinh chín tầng

 

*Mạn Thuật 08-(Ơn Quân Thần)

*Tuổi nào: bao nhiêu tuổi?

*Coi cửa nhà như quán khách, bởi không nặng lòng riêng tư

*Quân thân: vua và cha mẹ

*Âu: lo lắng

 

 

Thăng Long thành long vângặp hội

Lý qua Trần phơi phới vương ca (360)

Bắc, Trung, Namhợp một nhà

Phật, Nho, Lãodựng một tòa tâm linh

 

Trải qua một thời Minh xâm lược

Quốc loạn thêm sức bậc trung thần

Lam Sơn hun đúc khí thần

Lê Lợi phất ngọn cờ chân mạng rồng

 

Với Nguyễn Trãi vị thần vinh hiển

Cuộc trường kì kháng chiến vinh quang

Mười năm lửa nọ thử vàng

Trong lòng sen nở sắc càng muôn tươi (370)

 

Thăng Long đẹp tuyệt vời Hồng Đức

Với một nền học thuật nguy nga

Ta về ta tắm ao ta

Đã trong lại sạch ao nhà khéo hơn

 

Một ao nhà trùng dương sóng vỗ

Một ao nhà đồ sộ biển sông

Với bao mỹ tục thuần phong*

Dựng nên cả một Thăng Long rạng ngời

 

*Nguyễn Trãi, hiệu là Ức Trai, 13801442, là đại thần nhà Hậu Lê, một nhà văn chữ Nôm. Ông được xem là một anh hùng dân tộc của Việt Nam, một danh nhân văn hóathế giới.

*Mỹ tục thuần phong hay Thuần phong mỹ tục: Thuần:Tinh rặt một thứ, không lẫn chất khác, thành thật, tốt đẹp. Phong: lề thói. Mỹ: đẹp. Tục: thói quen. Thuần mỹ là thành thật và tốt đẹp.

Thuần phong mỹ tục là phong tục tốt đẹp và lành mạnh.

 

Trong môi trường đạo người cao cả

Bao văn hoa, văn hóatạo thành (380)

Này rồng vượt, này rồng đoanh…

Thăng Long thêm xứng địa danh Tiên Rồng

 

Lò luyện thép núi Nùngsông Nhị

Trường luyện người bể trí non nhân

Vào đời Hồng Đức, Thánh Tông

Quê ta có bậc kì nhân Trạng Trình

 

Lên một đã nói rành tiếng mẹ

Lên năm thì suốt nghĩa thơ Nôm

Hồn quê thoảng ngọn gió Nồm

So thơ Lục Bát ngọn nguồn ca dao (390)

 

Được hun đúc từ bao thế hệ

Đến đời cha đời mẹ song thân

Thảy đều là bậc tài nhân

Anh hoa kết tụ mười phân vẹn mười

 

Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh đời Hồng Đức

Thứ năm trăm hai- ấy nước nhà

Gặp cơn biến loạn sa đà

Hôn quân bạo chúa Sơn Hà ngửa nghiêng

*Nguyễn Bỉnh Khiêm(14911585) được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn của một nhà giáo có tiếng thời kỳ -Mạcphân tranhcũng như tài tiên tricác tiến triển của lịch sử Việt Nam. Ông sinh năm Tân Hợi đời vua Lê Thánh Tông, tức năm Hồng Đức thứ 22 (1491) tại làng Trung Am huyện Vĩnh Lại, Hải Dương, nay là làng Trung Am xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Sinh trưởng trong một danh gia vọng tộc, thân phụ ông là Thái bảo Nghiêm Quận công Nguyễn Văn Định; thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan Thượng thư Nhữ Văn Lân, là người giỏi văn thơ và am hiểu lý số, nên Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã tiếp thụ truyền thống gia giáo kỷ cương.

Nên giữ đúng nẻo hiền lối thánh

Xuất xử theo Khổng Mạnh thường nêu (400)

Sông Tương nước chảy trong veo

Thì ta đem giặt cái lèo mũ ta

Sông Tương nước đục phù sa

Thì ta lội xuống để mà rửa chân”*Khuất Nguyn

Dù một bụng Kinh Luân* gồm đủ

Dù trăm thơ sách sử gồm thâu

Tài này dễ nhượng ai đâu

Nhưng chàng họ Nguyễn dạ sâu gan bền

 

Vẫn đau đáu một niềm ẩn sĩ

Giữ sạch mình như thể nhiều năm (410)

Mãi cho đến tuổi bốn lăm

Mới mang lều chõng về thăm kinh kỳ

 

 

Để rồi vượt ba kì thi cử

Hương, Hội, Đìnhmà đỗ trạng nguyên

Quả nhiên danh bất hư truyền

Tài cao học rộng xứng tên Trạng Trình

 

Nhưng cái điều hiển vinh hơn hết

Là ngoài tài học viết Kinh Thư

Của nhà Khổng Mạnh Tôn Sư

Chở chuyên cái lẽ nên- hưđạo người (420)

*Kinh:Đường dọc, trải qua. Luân: trong công việc của người thợ dệt, chia các mối tơ theo chiều dọc gọi là Kinh, so những mối tơ lại cho bằng đầu gọi là Luân.

Kinh luânlà sắp đặt các mối tơ cho đúng chỗ để dệt ra tấm lụa đẹp. Nghĩa bóng, Kinh luân là sự khéo léo sắp đặt và sửa sang các việc chánh trị trong nước được trật tự, ổn định và phát triển tốt đẹp.

 

Nguyễn còn suốt đạo trời như nhất

Lẽ huyền vi Thái Ất Thần Kinh*

Ấy là lý Dịch cao minh

Khiến cho vũ trụ nhân sinh xoay vần

 

Nhờ khéo rõ lẽ vần xoay đó

Khiến tiên sinh thông tỏ cơ huyền

Viết nên Sấm Trạng danh truyền

Để nâng cả một niềm tin giống nòi

 

“Bát Quái tượng suy thiên vãng phục

Sở thanh quyên nhiệm thế hân si”(430)

Suy từ tám quẻ suy đi

Ắt hay vãng phục kẻ kia đất trời

 

Nghiệm vài tiếng quyên thôi cũng đủ

Thấu ra suy thịnh của Nhân Hoàn

Lý kia nắm bắt vẹn toàn

Tuệ Tâm kia ắt rỡ ràng triêu dương

 

Nên, từ Tuệ khởi nguồn từ Dịch

Là một triều thơ triết hài hòa

Thăng Long tự tại, an hòa

Đã như Bụt, Thánh, lại là Thần Tiên (440)

 

*Thái Ất thần kinhhay Thái Ấtlà một trong ba môn học xếp vào tam thức (Thái Ất, Độn giáp, Lục nhâm đại độn).

-Thái Ất tức là Thái Nhất, tên gọi khác của Thần Bắc cực.

-Trong tam thức, Thái Ất thiên về Thiên, nó nghiên cứu sự chuyển động của các tinh tú ảnh hưởng đến Trái Đất, đến con người.

 

 

Ôi những áng thơ thiền Tam Giáo

Vừa Nho vừa Phật, Lão tinh khôi

Ngàn bài thơ Hán tuyệt vời

Cho Thăng Long tỏ mặt người tài hoa

 

Mỗi vần chữ ngân nga điêu luyện

Dùng chữ người để chuyển hồn thơ

Cũng thì Tam Giáo tâm ca

Mà sao trong đó ngân nga Lạc Hồng

 

Ra vì tuệ đã thông suốt lý

Nên nho kia phá thế dung thường (450)

Để thành Nho của vô cương

Để nên Thườngcủa Diệu ThườngTâm Linh

 

Lại Phật nọ cũng xinh riêng vẻ

Mỗi vần thơ đẹp khỏe sức Thiền

Lại còn Trang, Lão như nhiên

Ý như hơi thở đoàn viên nhiệm mầu

 

Xin nghe thử đôi câu xuất thế

“An nhàn ngã thị địa trung tiên”

Lời thơ chữ Hán hồn nhiên

Vẽ lên hình dáng ông tiên cõi mình (460)

 

*Tam giáochỉ đến ba truyền thống tôn giáocó ảnh hưởng lớn mạnh trong các nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa. Tam giáo gồm có:

-Nho giáo: còn gọi là đạo Khổng

-Phật giáo

-Lão giáo

Một ngàn bài thơ xinh chữ Hán

Thảy đều mang láng dáng Việt Nam

Lời thơ tuôn chảy dễ dàng

Ý thơ thắm đẫm tâm can Lạc Hồng

 

Hậu thế Đinh, thi trung đã viết

Về “nhà thơ minh triết” như sau:

Muôn chương sách đọc làu làu

Học tài chẳng kém Tô, Âuchút nào

 

Lại bảy bước đã vào thư tứ

Tài thơ kia Lý, Đỗnào hơn (470)

Ấy là nói chuyện “thơ Đường”

Bên cạnh còn có “thơ Nôm” lẫy lừng

 

Hai trăm bài thơ, từng bài một

Gồm những câu ngọc thốt hoa cười

Những câu xinh đẹp tuyệt vời

Hàng hàng vóc dệt lời lời gấm thêu

 

Hai trăm bài thơ! Nhiều ý lạ

Nhiều lời hay … xinh quá tình quê

Gió lay động lá Bồ Đề

Tình cha nghĩa mẹ sum sê cõi lòng (480)

 

*Tô, Âu: chỉ 2 nhà thơ lớn đời Tống- Trung Quốc:

*Tô Thức (8/1/1037–24/8/1101), tự Tử Chiêm, một tự khác là Hòa Trọng, hiệu Đông Pha cư sĩ nên còn gọi là Tô Đông Pha, là nhà văn, nhà thơnổi tiếng Trung Quốcthời Tống. Ông được mệnh danh là một trong Bát đại gia Đường Tống.

*Âu Dương Tu (1007- 1072) có tên tự là Vĩnh Thúc hiệu "Tuý Ông" là nhà thơ thời TốngTrung Quốc.

Quê Âu Dương Tu ở Lư Lăng (nay thuộc tỉnh Giang Tây, Trung Quốc). Năm Thiên Thánh thứ 7(1030) đỗ đầu khoa thi tiến sĩ; từng giữ các chức quan Hàn lâm học sĩ, Xu mật viện phó sứ, Tham tri chính sự... Dưới thời vua Tống Thần Tônglàm Binh bộ Thượng Thư, khi mất được đặt tên thụy là Văn Trung.

Hai trăm bài thơ từng ấy ngọc

Từng ấy châu gấm vóc quê hương

Từng ấy nắng, từng ấy sương

Từng ấy lửa, từng ấy hương… vạn đời

 

Từng ấy đất, ấy trờiLạc Việt

Từng ấy mai, ấy nguyệtThăng Long

Từng ấy hạc, từng ấy thông

Hiện thân hào kiệt, anh hùng, sĩ phu

 

Hãy nghe những vần thơ Quốc Ngữ

Trong “Bạch Vân Quốc Ngữ Thi” rằng:(490)

Một mai một cuốc một cần câu

Thơ thẩn dù ai vui thú nào

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Rượu đến gốc cây ta sẽ nhấp

Nhìn xem phú quí tợ chim bao”* Bài thơ “Cảnh Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bài thơ mới đẹp làm sao

Chữ trung mộc mạc nghĩa cao nghìn trùng (500)

 

 

 

 

*Lý,Đỗ: chỉ hai nhà thơ nổi tiếng thời Đường Trung Quốc là Lý Bạch và Đỗ Phủ

-Lý Bạch(701- 762) là nhà thơ danh tiếng nhất thời thịnh Đườngnói riêng và Trung Hoanói chung, được hậu bối tôn làm Thi Tiên.

-Đỗ Phủ (712-770) tự là Tử Mỹ, cũng còn được gọi là "Đỗ Thập di", "Đỗ Công bộ", "Đỗ Thiếu Lăng". Ông sinh ở huyện Củng, tỉnh Hà Nam, thi tiến sĩ không đỗ. Lận đận mãi được giữ một số chức quan nhỏ nhưng chỉ trong khoảng thời gian ngắn. Ông sống cuộc đời nghèo khổ. Trong loạn An Sử ông cùng gia đình lưu lạc khốn khổ khắp nơi và trút hơi thở cuối cùng trong một con thuyền rách nát trên dòng sông Tương.
 

Ấy là nghĩa “cư trần lạc đạo

Nghĩa “an bần lạc đạo” như nhiên

Thanh tâm thiểu dục” vẹn tuyền

Cho con người Việt xứng nên đạo người

Từng chữ một, mỗi lời là một

Nét hoa cười ngọc kết tinh anh

Chữ Nôm mộc mạc trong lành

Mà sao khéo dệt nên tranh thịnh Đường

 

Nhờ sống đạo tỏ tường Chu Dịch*

Nên thọ kia thấm đức phúc lành (510)

Chín mươi, xuân vẫn còn xanh

Chín mươi phúc vẫn đâm nhành lộc non

 

Tóc đã thưa, răng đã mòn

Việc nhà đã phó mặc dâu con

Bàn cờ, cuộc rượu, vầy hoa cúc

Bó củi cần câu chốn nước non

Nhàn được thú vui hay nấn ná

Lấy nhân làm nghĩa cả nhân sinh

Cuộc đời là cuộc phù sinh

Trọng câu nhân nghĩa, coi khinh công hầu”(520)

 

Lời thơ đẹp một bầu trăng gió

Đắc nhân tâm tuổi thọ bền lâu

Xuân qua xuân có mặt đâu

Xuân trước lại tiếp, xuân sau mãi còn

*Chu Dịchthực ra được coi là một tác phẩm cấu thành từ Kinh dịch

Ôi! Quốc túy quốc hồn Lạc Việt

Trong lời thơ của “Tuyết Giang phu…

“Của tin” khéo để ngàn thu

Bên pho Sấm Trạng vi vu sáo diều

 

Rồng vàng hiện, mở triều vua Lý

Đã gần mười thế kỷ trôi qua (530)

Ngàn năm huyết lệ, gấm hoa

Hai mươi (20)tháng tám (08) vừa qua lạ lùng

 

Trời Hà Nội bỗng dưng tỏa sáng

Một vầng mây hiện dáng Rồng Đoanh

Khiến dân khu vực chung quanh

Mỹ Đình, Cầu Giấy, Ba Đình, Đống Đa

 

Cùng ngẩng mặt trông đà mãn nhãn

Cổ mây vàng hiện dáng Rồngkia

Giữa bầu trời suốt pha lê

Rồngvàng hiện băng khác gì Thăng Long (540)

 

Bốn mươi phút mây Rồngthể hiện

Như nhắc ta nhớ đến một thời

Vua Lý vâng theo mệnh trời

Dời đô đến chốn đời đời gấm hoa

 

Toàn bộ lợi nhuận của công ty cổ phần Đại Nam không chia cho cổ đông. Lợi nhuận sau khi tái đầu tư, công ty sẽ dành 100% lợi nhuận còn lại cho quỹ từ thiện Hằng Hữu hoạt động vì cộng đồng, đặc biệt là chương trình mổ tim dành cho trẻ em