Trường ca Thăng Long - Quyển 1 - Phần 2

Trường ca Thăng Long - Quyển 1 - Phần 2

Nói lên cái Thăng Long hùng vĩ

Chiếc nôi chân thiện mỹ bao đời

Kết tinh nên những con người

Gánh trên vai cả mặt trời mặt trăng

 

 

 

 

*Hạo nhiên: chí khí ngay thẳng, khảng khái.

*Đan tâm nhất phiến: nhất:Thứ nhứt, một, mỗi một, đứng đầu, hơn hết, thống nhứt, tổng quát. Phiến: tấm, mảnh. Đan: Đơn: màu đỏ.

Nhất phiến đan tâm là một tấm lòng son.

Ý nói: tấm lòng thành thật tốt đẹp như son, son sắt một lòng dù trong nước sôi hay lửa đỏ.

Ai còn nhớ hay chăng ngày ấy

Ngày Thăng Long bùng dậy niềm vui

Quê hương tan bóng giặc rồi

Và em lại nở nụ cười bên anh (620)

 

Cuộc kháng chiến mà oanh liệt thế

Mười năm trường máu lệ hy sinh

Nguy nga những bước chân mình

Trường kì kháng chiến quân Minh bạo tàn

 

Cuộc chiến thắng huy hoàng chính đạo

Kết thúc bằng Đại Cáo Bình Ngô

Một trang tuyệt bút ngàn thu

Nói lên tất cả tâm tư Lạc Hồng

 

Là ý chí hợp đồng dân tộc

Là tinh thần bất khuất trung trinh (630)

Là niềm vàng đá hy sinh

Là nghĩa độc lập, là tình tự do

 

Ý Đại Cáo Bình Ngô là thế

Rạng ngời ngời trí tuệ Thăng Long

Mở thêm một trang sử hồng

Mười năm kháng chiến thành công tuyệt vời

 

Tiếp đó cả một thời vinh hiển

Với vô vàn thể hiện tâm linh

Nào thơ, nào phú, nào kinh

Luật Hồng Đức dựng công trình kỷ cương (640)

 

 

Khéo chỉnh đốn cương thường quốc độ

Cho nhân sinh được tựa nương đời

Vua ra vua, tôi ra tôi

Nhân nghĩa lễ trí tín ngời luật ghi

 

Nhớ lời nói của vì thiên tử

Lê Thánh Tôn từ thuở đương thời

Rằng: luật dành cho mọi người

Ấy là riềng mối của đời nhân sinh

 

Chẳng ai được xem khinh phép nước

Kể cả người cao tột là vua (650)

Ôi! Lời của bậc “ra vua”

Thượng tôn pháp luật căn cơ Lạc Hồng

 

Vốn thấu triệt nghĩa dân vi quý

Xã tắc kia gia dĩ thứ chi

Còn quân thực chẳng đáng chi

“Quân vi khinh” lời xưa ghi rõ ràng

 

Nhưng chẳng mỗi lời vàng tiếng ngọc

Mà còn “ngôn thành hợp nhất kia

Ví như đô đốc họ Lê

Tướng quân Lê Thiệt vốn kề cận vua (660)

 

Lại dung túng để cho quý tử

Giữa phố phường rong ngựa phóng chơi

Làm cho môn hạ đánh người

Vua bèn xử tội cho thôi chức liền

 

 

Do vương pháp giữ nghiêm như thế

Nên triều cang thịnh trị lẽ thường

Lý, Trần, Lê đẹp thiên lương

Riêng Lê có bậc đế vương siêu phàm

 

Đã mở nước vẻ vang bờ cõi

Lại xây nền chói lọi văn minh (670)

Võ công văn nghiệp song hành

Quốc sử viện chép sử xanh Lạc Hồng

 

Hàn lâm việnlẫy lừng văn hiến

Hội tao đànuyển chuyển thi ca

Quốc Âm bừng nở tinh ba

Đế vương thi sĩ thêu hoa gấm đời

 

Đại Việt Sử Kýngời gương nước

Ngô Sĩ Liên tài vượt cổ kim

Quốc Âm Thi Tậpkhông tiền

Lời lời châu ngọc chở chuyên quốc hồn (680)

 

Và hành động vô cùng vĩ đại

Của vua Lê thời ấy chính là

Chuộc điều lầm lỗi đời cha

Đã giết oan cả một nhà Ức Trai (Nguyễn Trãi)

 

Là bậc đại hùng tài đất nước

Bậc công thần siêu việt cổ kim

Cho hồn Nguyễn Trãi oan khiên

Từ sâu họa có khôn thiêng ngậm cười

 

 

Quốc Âm Thi Tậpngời châu ngọc

Đẹp từng lời gấm vóc giang sơn (690)

Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương

Miếu ai như miếu vợ chàng Trương

 

Ngọn đèn dầu tắt đừng nghe trẻ

Làm nước chi cho lụy đến nàng

Chứng quả có đôi vầng nhật nguyệt

Giải oan chi mượn một đàng tràng

 

Qua đây mới biết nguồn cơn ấy

Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng

        Trái tim nhân dũng vẹn toàn

Tiết rung động trước nhân gian đoạn trường (700)

 

Lại thường giữ đạo trường xử thế

“Cung, khoan, tôn, mẫu, huệ” trao dồi

“Trội cành nam chiếm một chồi

Tin xuân mãi mãi điểm cây mai

Tinh thần sáng thuở trăng tĩnh

Cốt cách đông khi gió thôi

Tiết cứng trượng phu, thông ấy bạn

Nếp trong quân tử trúc là đôi

Nhà truyền thanh bạch dăng từng khối

Phỉ xứng danh thơm động nhất khôi”* (710)

Bài thơ “Mai Thụ” tuyệt vời

Nói lên cốt cách của người trượng phu

 

 

 

*Bài thơ “Mai Thụ”của Lê Thánh Tôn

Giữ tiết cứng ý như tùng bách

Lại nết trong nết sạch ý như

Trúc kia tiết trực tâm hư

Ôi! Bài thơ đẹp tâm tư Lạc Hồng

 

Thơ thất ngôn mà dùng sáu chữ

Sáu chữ mà như đủ thất ngôn

Tạo nên phong cách Việt Thường

Cái tròn nọ để cái vuông thêm tròn (720)

 

Những  bài thơ Việt Nôm từ tốn

Đến điệu vần-đẹp biếc xanh non

Còn trời còn nước còn non

Thơ Nôm nước Việt ta còn thấu chăng?

 

Cái sự nghiệp tao đàn nguyên soái

Nó huy hoàng vĩ đại vô song

Ngoảnh xem nam bắc tây đông

Có vua nào lập kỳ công cho bằng

 

Vì cái lẽ nên chăng nguyên soái

Ấy là đương sự phải là… thơ (730)

Một thiên tài, một đương cơ

Một người hội đủ hồn thơ trong lòng

 

Lại hội đủ cái tâm trí tuệ

Để tỏ tường đạo lý càn khôn

Tỏ tường cái thiệt cái hơn

Cái hay cái dở vở tuồng nhân sinh

 

 

Biết thế để càng xinh tấc dạ

Kính yêu vì vương giả thiên nhân

Đã từng để lại hồng ân

Cho con cháu hưởng những vần thơ hay (740)

 

Thơ Hồng Đức tỏa đầy hạo khí

Của trái tim thâm ý dũng thành

Góp phần hưng quốc đẹp xanh

Góp phần vệ quốc an lành thiên thu

 

Luật Hồng Đức thêm thơ Hồng Đức

Như phụng hoàng hoạt dực trong mây

Vẫy vùng Nam Bắc Đông Tây

Tỏa anh khí hạo nhiên đầy non sông

 

Luật ấy với thơ đây trường tại

Mười ba chương với bảy trăm điều (750)

Y như một chiếc võng điều

Đưa người đến cõi phong nhiêu no đầy

 

Giúp cho nước nở mày nở mặt

Dựng tượng đồng vách sắt biên cương

Giữ an phép nước đạo thường

Thuần phong mỹ tụcmối giường Rồng Tiên

 

Ra sức bảo vệ quyền phục nữ

Cho chị em được nở mặt mày

Lẽ rằng dương đó âm đây

Cùng chung một cội, là rằng trọng khinh (760)

*Thuần phong mỹ tục : Thuần:Tinh rặt một thứ, không lẫn chất khác, thành thật, tốt đẹp. Phong: lề thói. Mỹ: đẹp. Tục: thói quen.

Thuần phong mỹ tục là phong tục tốt đẹp và lành mạnh.

Huống nữa còn mẫu tình vô thượng

Lòng mẹ kia vô lượng triều xanh

Ỷ Lan Phật mẫu quê mình

“Tòng địa dõng xuất” trong kinh Việt Thường

 

Ngoài chính sách xiển dươngtam giáo

Với tinh thần sáng tạo chung dân

Còn bao chính sách duy tân

Khuyến công thương, chấn hưng nông vẹn toàn

 

Hình luật sẵn nghiêm khoan tương hỗ

Giúp cho đời đẹp chữ trung dung (770)

Lại chống tham nhũng tận cùng

Cho đời đẹp nghĩa chí công chí bình

 

Nhờ chính sách quang minh như thế

Nên phát huy bá nghệ đa năng

Ví như “bà chúa nghề tằm”

Lời xưa truyền thuyết lại rằng! Ngày xưa

 

Có vị quan triều Lê hưu trí

Nằm mơ đang du hí thiên đình

Ngọc hoàng thượng đế thương tình

Bèn cho công chúa con mình Từ Hoa (780)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*Xiển dương : Xiển:Mở rộng và làm sáng tỏ ra. Dương: đưa lên cao.

       Xiển dương là làm sáng tỏ và phát triển rộng ra.

Thế giáng làm con nhà quan nọ

Tỉnh mộng rồi bèn có thật ngay

Vợ nhà thoắt bỗng mang thai

Sinh một gái đặt tên rày Quỳnh Hoa

 

Lớn lên lấy chồng là tri phủ

Rồi vinh thăng ngự sử đô đài

Sau khi thần thất lộc rồi

Lại về nhà bố mẹ nơi Nghi Tàm

 

Và vốn trước đảm đang khung cửi

Giỏi nuôi tằm lại giỏi trồng dâu (790)

Bấy giờ quá bụa canh thâu

Bèn chăm việc cũ, giải đau tang chồng

 

Lại sẵn một tấm lòng nhân ái

Bèn đem nghề truyền lại bà con

Khiến người đầu ngõ cuối thôn

Thảy đều thao việc dâu vườn tằm nong

 

Khi bà thác nhớ công ơn nọ

Bèn tôn bà làm “Tổ Tằm Tơ”

Từ bao xưa đến bao giờ

Sáu mươi làng xã vẫn thờ Quỳnh Hoa (800)

 

Bên cạnh “Tổ Tằm” là “Tổ Dệt

Xưa có cô gái tuyệt trần đời

Đã xinh nhan sắc nụ cười

Lại giỏi nghề dệt ai người vượt qua

 

 

Nàng ấy tên Thị La họ Nguyễn

Lấy chồng người ở huyện Hồng Châu

Giỏi nghề nên chẳng bao lâu

Đã dựng phường dệt ở đầu Hồ Tây

 

Sau vì chồng chẳng may tử trận

Nàng La bèn tự vẫn theo chồng (810)

Vua Lê thương bậc thư hùng

Bèn cho lập miếu Nhược Công xã nhà

 

Phong làm công chúa Thụ La

Ấy bà chúa dệt quê ta kinh kỳ

Triều Hồng Đức tử vi trác tuyệt

Võ công cùng văn nghiệp thăng hoa

Bên ngành tằm dệt nguy nga

Còn trăm ngành nở trăm hoa tưng bừng

 

Đặc biệt nghề đúc đồng Quốc Động

Ông tổ nghề là Khổng Minh Không (820)

Nay thờ ở phố Châu Long

Thuộc quận Hoàn Kiếm lẫy lừng một phương

 

Khổng Minh Không họ Dương tên Lộ

Xưa làm nghề chài ở ven sông

Một hôm gặp khách lạ lùng

Cười rằng sao mãi long đong uổng đời

 

Ngươi kiếp trước vốn nơi tiên cảnh

Nói xong liền đỏng đảnh quay đi

Dương nghe tỉnh ngộ tức thì

Bèn tìm cửa đạo quy y Phật thầy (830)

Đời Hồng Đức, Dương nay tự tại

Phép thần thông quảng đại vô song

Đã từng bay ở trên không

Đi trên mặt nước thong dong biển trời

 

Ngoài những phép biển người, hóa vật

Rải đậu thành binh thật dị thường

Khổng còn giỏi thuật đúc chuông

Có lần, qua tận Bắc phương năm nào

 

Quyên gom được đồng thau triệu tạ

Đoạn gỡ ngay nón lá đội đầu (840)

Thổi làm thuyền giữa biển sâu

Rồi lên nón chở đồng thau theo mình

 

Mà làm cuộc hải trình vĩ đại

Dùng gậy làm chèo đẩy thuyền bay

Vượt qua ngàn dặm thoáng giây

Đỗ bờ Nam, đúc đồng nay thành đồ

 

Tứ Bảobây giờ còn giữ

Nơi bốn ngôi chùa cổ Thăng Long

Truyền thuyết gọi Khổng Minh Không ấy

Là hợp hai tên vậy, một là (850)

Dương Không Lộ, lại là hai

Nguyễn Minh Không- cũng chẳng qua một người

*Tứ Bảochỉ Tứ khí: là bốn vật lớn bằng kim khí, đúng hơn là bốn vật quý bằng đồng, được đúc công phu, trọng lượng tương đối lớn, được chế tác vào thời Lý Trần. Các sản phẩm nầy thể hiện trình độ đúc đồng của những người thợ đúc thủ công tài giỏi thời đại đó.
Tứ đại khí gồm có:
- Pho tượng chùa Quỳnh Lâm,
- Tháp Báo Thiên,
- Chuông Quy Điền
- Đỉnh Phổ Minh.

Như đã nói vào thời thịnh trị

Thì bá công bá nghệ thăng hoa

Như triều Hồng Đức quê ta

Đã khai trương biết bao là nghệ môn

 

Để vinh danh quốc hồn Đại Việt

Đẹp vĩnh hằng cái đẹp Văn Lang

Trên đây ghi lại đôi hàng

Gọi là để nhớ Tràng An một thời (860)

 

Người xưa nói: “lòng người quyết định

Khi lòng người minh chính trang nghiêm

Thì: “Tu, Tề, Trị, Bình”, nên

Một người nên, ảnh hưởng nên bao người

 

Vì người ấy là “Tôi” trong nước

Ắt là con quyến thuộc đặng nhờ

Huồng chi người ấy là “Vua

Thì Long Ân ắt vỡ, trào mà tuôn…

 

Thì như thể Thánh Tông vĩ đại

Những gì Ngàiđể lại mai sau (870)

Thật là muôn ngọc nghìn trau

Muôn sao nghìn trượng, muôn nẻo nghìn trùng

 

Những tác phẩm vô cùng trau chuốt

Thập giới cô hồn quốc ngữ văn

Văn minh cổ xúy” đạo hằng

Cổ tâm bách vịnh” sáng trăng bao đời

 

 

Những tác phẩm tuyệt vời phong phú

Phản ảnh vừa Uy Vũvô song

Lại vừa cả mối Từ Tâm

Tuyệt vời Bi, Trí, Dũngtrong một người (880)

 

Người như thế thay trời mới xứng

Làm vua thì mới đúng là vua

Nam Bang vững mạnh cõi bờ

Nam thiên phất phới ngọn cờ Thăng Long

 

Những dấu ấn Thánh Tông thời ấy

Còn in trong những giấy tờ xưa

Biết bao chiếu chỉ nhà vua

Khuyến nông lập ấp … giúp bờ cõi xanh

 

Một trái tim nhiệt thành độc lập

Một tinh thần bất khuất tự cường (890)

Một hùng tâm của Việt Thường

Hai mươi tuổi bậc Đế Vương Lạc Hồng

 

Đã từng trách cựu thần hai vị

Nhân Thọ và Ngô Sĩ Liên, rằng:

Các ngươi chớ tấu lời xằng

Nước ta há phải, phiên bang nước nào

 

Lời quở trách xiết bao lẫm liệt*

Phản ảnh tâm Lạc Việt hùng hào

Sống mà đầu ngẩn lên cao

Đội trời đạp đất chẳng bao giờ hèn (900)

 

*Lẫm liệt: có dáng hiên ngang, vẻ oai nghiêm đáng kính phục.

Lời vua quở toát lên chính khí

Ta mới lên quản trị nước nhà

Các ngươi lại dám bảo là…

Rõ là lạc bước nẻo tà vong nô…

 

Một lời của vị vua trẻ tuổi

Nói lên tròn thịnh hội non sông

Xét trong lịch sử Lạc Hồng

Bốn mươi năm của Thánh Tông chính là

 

Một trong những hùng ca đẹp nhất

Làm vẻ vang trời đất Văn Lang (910)

Nguy nga Ngựa đá Âu vàng

Nước Nam là của vua Nam trị vì

 

Sao quên được hùng thi thánh chúa

Bài thơ Nôm như lúa đơm bông

Lòng vì thiên hạ những sơ âu*

Thay việc trời, dám trễ đâu?

 

Trống dời canh, còn đọc sách

Chiêng xế bóng, chửa thôi chầu…

Thế là rõ nghĩa trước sau

  Trước là trước việc nước, nào quản công (920)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*Trích trong bài thơ :Tự Thuật” của Lê Thái Tông

Sau là sau cái ăn cái ngủ

Cái linh tinh hưởng thụ sang giàu

Một gương minh triết rạng làu

Một gương trí dũng ngàn sau rạng ngời

 

Đạo làm vua tuyệt vời như thế

Hãy nghe thơ vua kể sự tình: (“Đạo Làm Vua” của LêThái Tông)

Đạo lớn đế vương nghĩ đã tinh

Thương yêu dân chúng kính trời xanh

 

Tìm tòi kế sách xây đời thịnh

Bỏ hẳn chơi bời giữ nếp thanh (930)

Cân nhắc anh tài phô mỹ đức

Chăm lo võ bị trọng quyền binh

Điều hòa muôn việc theo mùa tiết

Khắp chốn hân hoan đẹp thái bình

Bài thơ chan chứa nghĩa tình

Đế vương hữu trách” rõ xinh cương thường*

 

Vương phải xứng là vương mới “chính

Thương yêu dân chúng kính trời xanh

Bỏ chơi bời giữ nếp thanh

Thanh tâm thiểu dục xứng danh “con trời”(940)

 

 

 

 

 

 

 

*Cang thường (Cương thường):Cang:cái giềng của tấm lưới, ý nói Tam cang (hay Tam cương). Thường:hằng có, ý nói Ngũ thường. Cang thường là nói tắt của Tam cang và Ngũ thường.

Tam cang và Ngũ thường là phần căn bản trong Nhơn đạo của người đàn ông.

Tam cang hay Tam cương dịch là Ba giềng hay Ba mối. Tam cang gồm: Quân thần cang, Phụ tử cang, Phu thê cang.

Ngũ thường được dịch là Năm hằng. Ngũ thường gồm: Nhơn, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Tìm kế sách xây đời hưng thịnh

Chăm lo võ bị trọng quyền binh

Nơi nơi vui vẻ thái bình

Cũng nhờ vua giữ phận mình “ra vua

 

Chỉ mỗi một bài thơ bảy chữ

Tám câu hòa hội đủ cương thường

Tam cương: chánh khí đường đường

Ngũ thường: đạo lý miên trường xưa nay

 

Tìm tòi kế sách xây đời thịnh

Bao công trình tuyệt đỉnh Thăng Long(950)

Từ văn nghiệp, từ võ công

Thảy đều từ một tấm lòng đế vương

 

Hết thảy từ tâm hồn trác tuyệt*

Từ tâm hồn Lạc Việt Thăng Long

Một phen gặp hội mây rồng

Bèn vươn lên giữa bích không tung hoành

 

Đưa đất nước hóa thành Đại Việt

Với nguy nga “Thiên Hạ Bản Đồ

Bạt ngàn gấm điểm hoa tô

Mười ba xứ đẹp khôi ngô Sơn Hà (960)

 

 

 

 

 

 

 

*Trác tuyệt:Trác:cao xa. Tuyệt:tột đỉnh.

Trác tuyệt là vượt lên khỏi mức bình thường, tức là phi thường, siêu việt, đồng nghĩa: Trác việt.

Thuở ấy nước Đại Việt ta hùng vũ

Với Thăng Long vị trí Tràng An

Là kinh đô một đại Bang

Nghìn năm văn hiến vẻ vang vương quyền

 

Khiến những nước láng giềng quy ngưỡng

Như trăm con chim phượng quay đầu

Về chầu minh nguyệt tỏ làu

Trời Nam Đại Việt minh châu rạng ngời

 

Một thế kỷ tuyệt vời thịnh trị

Mà bao vương quốc ví như sau:  (970)

Chăm Pa, Lan Xang, Ai Lao

Chiang Mai, Chân Lạp*…xiết bao láng giềng

 

Đều quy phục một niềm triều cống

Cho Thăng Long thêm lộng trời xanh

Mà bao nhiêu ánh long lanh

Cũng từ tâm thức hùng anh một người

 

Cứ nghe thử những lời châu ngọc

Vận nhất dung y, năng đảm thế gian, đề tam xích kiếm, tận thu thiên hạ nhân tâm*

Một người thực hiện đạo người

Gom muôn việc khó của đời thế gian (980)

Mà lo mà liệu chu toàn

Một tay tế thế kinh bang*lẫy lừng

*Tên riêng

*Nghĩa là: Vận một áo bào bao khắp thế gian việc khó,Chống ba thước kiếm, gồm thu thiên hạ lòng người.

 

*Kinh bang tế thế:Kinh:Sửa trị, hoạch định. Bang:một nước. Tế:cứu giúp. Thế:đời.

Kinh bang tế thế là trị nước cứu đời.

Người có tài kinh bang tế thế là người tài đức cao siêu, giúp nước giúp dân được yên ổn thịnh vượng, an cư lạc nghiệp.

Đạo người ở trong tâm người ấy

Ấy là lòng nhân vậy. Lòng nhân

Khiến người yêu khắp muôn dân

Tình yêu rộng khắp đường gần nẻo xa

 

Tình yêu ấy tỏa ra muôn dặm

Khác chi như tia nắng đầu xuân

Chiếu cùng vũ trụ xa gần

Thảy đều được hưởng lòng ân nồng nàn (990)

 

Những bài thơ đá vàng non bể

Những bài thơ dựng đế xây vương

Như Chùa Trấn Quốcthanh lương

Muôn sau còn vọng tiếng chuông cơ đồ

 

 

Trung lập Càn Khôn vững đế đô

Mang danh Trấn Quốcở Tây Hồ

Xuân thu thêm có mươi phần lạ

Hoa cỏ đành hay một thức phô

 

Hây hẩy phương trời thơm ngỡ xạ

Làu làu đèn mực rạng như tô (1000)

Kìa ai đủng đỉnh làm chi đấy

Một tiếng kình khua một chữ

Thăng Long đẹp tiếng chuông chùa

Tiếng chuông trường tại trong tờ thơ Lê

 

 

 

 

Gốc đại thụ Bồ Đề muôn thuở

Che mái chùa gìn giữ non sông

Bài thơ Trấn Quốc Thăng Long

Trăm xưa còn vọng tiếng lòng quê hương

 

Hoài niệm của đế vương còn đó

Trong bài thơ “Thành Cổ”ngân nga (1010)

Hoa cỏ đành xưa, gốc gốc già

Biết bao thu trải mấy hè qua

Cáo kêu eo éo ban trời tối

Quỷ khóc đìu hiu trận nguyệt tà

Công nghiệp ngày xưa hòn đá dựng

Bá vương nền cũ hạt mưa sa

Khen ai gây đặng thành đô ấy

Ấy của Tiên Vương của Quốc Gia

Bài thơ dệt gấm thêu hoa

Bằng Tâm gánh vác Sơn Hà Đế Vương (1020)

Mỗi lời quốc sắc thiên hương

Mỗi vầng nguyệt thẹn hoa nhường lắm thay!

 

Ra một tấm lòng này chung thủy

Nhớ công ơn Hùng Thịkhai sơn

Làm người đứng giữa Càn Khôn

Có đâu lãng cội quên nguồntổ tiên

 

Hiếu Tâmấy rất nên châu ngọc

Đan Tâmnày rất mực anh hoa

Ngoài niềm nhớ nghĩa quốc gia

Càn Khôn thương bậc tài hoa triều đình (1030)

*Đan tâm:Đơn:Màu đỏ, màu son. Tâm:lòng dạ.

Đan tâm hay Đơn tâm, dịch là Lòng son, nghĩa là tấm lòng thành thật tốt đẹp không phai như màu đỏ của son.

Xem chiếu trạng Thế Vinhthì rõ

Tấm lòng “Vua” bày tỏ cùng “Tôi

Nguy nga thay cái đạo người

Một tình yêu suốt cõi đời bao la

 

 “Chiếu thư Thượng Đế xuống hôm qua

Gióng Khách Chương Đài kiếp tại nhà

Cẩm tú mấy hàng về động ngọc

Thánh Hiền ba chén ướt hồn hoa

Khí thiên đã lại thu sơn nhạc

Danh lạ còn truyền để quốc gia (1040)

Khuất ngón tay than tài cái thế

Lấy ai làm trạng nước Nam ta

Lấy ai làm trạng nước nhà

 Vuayêu Tôi đến thế là vô song

 

Vuađối Tôimột lòng như thế

Tấm lòng kia nhân nghĩa vẹn toàn

Lại thêm “Lễ, Trí” đôi đàng

Hỏi sao ngựa đá âu vàngkhông xinh

 

Sử chép trạng Thế Vinhngày ấy

Quả là kì nhân vậy nước Nam (1050)

Trí tri cách vực vẹn toàn

Kho kiến thức của nhân gian bấy giờ

 

Bên tài trícòn thừa đức hạnh

Một tấm lòng gồng gánh nhân sinh

Một đời nấu sử soi kinh

Rồi đem dâng hiến trọn tình quê hương

 

Người quê ở Cao Hương- Vụ Bản

Tuổi hai ba đỗ trạng đầu khoa

Một nhà toán học tài ba

Soạn nên sách giúp trường ta học hành (1060)

 

Một là quyển “Khải Minh Toán Học

Hai lấy toàn “Toán Pháp Đại Thành

Suốt năm thế kỷ nước mình

Dựng sách toán ấy chương trình quốc gia

 

Ngoài nhà toáncòn nhà thơnữa

Hội Tao Đàn một thuở bừng lên

Ngoài “Đạo Thơ“còn “Đạo Thiền

Lại còn Dịch Họcthâm uyên một thời

 

Tài đã sẵn thêm người tu ngộ

Ấy là vì tôn chỉ anh minh (1070)

Trạng nguyên tài đức Thế Vinh

Nên Thế Vinh mỗi Thế Vinh một đời

 

Lòng yêu chuộng bề tôi như thế

Quả là Tâmvương đế trượng phu

Xét trong sách sử xuân thu

Dễ ai có được Tâmnhư Phậtnày

 

Bên Tâm Phậtcòn đầy Trang, Lão

Như bài thơ huyền ảosau đây: 

Non mở bình phong tám bức vây

Chợ quê ngày tạnh lục in cây….” (1080)

 

Hoàn thành ngày 02 tháng 10 năm 2009

(Giờ ngọ ngày 14 tháng 08 năm Kỷ Sửu)

 

Toàn bộ lợi nhuận của công ty cổ phần Đại Nam không chia cho cổ đông. Lợi nhuận sau khi tái đầu tư, công ty sẽ dành 100% lợi nhuận còn lại cho quỹ từ thiện Hằng Hữu hoạt động vì cộng đồng, đặc biệt là chương trình mổ tim dành cho trẻ em