Trường ca Thăng Long - Quyển 2 - Phần 2

Trường ca Thăng Long - Quyển 2 - Phần 2

*Nguyễn Bỉnh Khiêm  có biệt hiệu là Tuyết Giang phu tử

Và, sau đó thì qua Sấm Trạng

Ắt tới thời “vượt cạn” Rồngbay

Sấm kia còn những lời hay

Thử đem ngẫm lại có hay chăng cùng

“…Cơ nhị ngũ thư hùng vị quyết
Đảo Hoành Sơn tam liệt ngũ phân
(550)
Ta hồ vô phụ vô quân
Đào viên tán lạc ngô dân thủ thành
Đoài phương phước địa giáng linh
Cửu trùng thụy ứng long thành ngũ vân
Phá điền thiên tử giáng trần
Dũng sĩ nhược hải, mưu thần như lâm
Trần công nãi thị phúc tâm
Giang hồ sử sĩ Đào Tiềm xuất du
Tướng thần hệ xuất Y, Chu
Thử kỳ phục kiến Đường, Ngu thị thành
(560)
Hiệu xưng thiên hạ thái bình
Đông Tây vô sự Nam thành quốc gia
”*

Lời Sấm ứng chăng là? Chỉ biết

Sau ngàn năm oanh liệt đấu tranh

Việt Nam đã có hòa bình

Con đường đi tới vinh quang tuyệt vời

 

 

 

*Trích trong Bạch Vân Ca- Nguyễn Bỉnh Khiêm

Thăng Long thành bao đời oanh liệt

Địa linh sinh nhân kiệt bao người

Một pho Sấm Trạng tuyệt vời

Nghe như thị ký nụ cười tương lai (570)

 

Hãy nghe thử một lời Sấm cú

Vẽ nên trong thảm sử thời tây

Kìa kìa gió thổi lá rung cây

Rung Bắc, sang Nam, Đông tới Tây

 

Tan tác kiến kiều an đất nước

Xác xơ cổ thụ sạch am mây

Lam Giang nổi sóng mù thao cát

Hưng địa tràn dâng hóa nước đầy

 

Một ngựa một yên ai sùng bái

Cha con nhà Vĩnh Bảo cho hay…”*(580)

Một cơn gió bão phương Tây

Cho tan tác cả đất này Kiến An

 

Tan tác cả Cổ Am, Hưng Hóa

Yên Bái rồi lại cả Sơn Thao

Một cơn bình địa ba đào

Một phen xương trắng máu đào tang thương

 

 

 

*Trích trong Sấm Ký- Nguyễn Bỉnh Khiêm

Lại giữ lại từng chương sử ký

Những nhân tài nguyên khí non sông

Thời Lê gặp buổi suy vong

Khéo thay đất mẹ sinh ông Trạng Trình (590)

 

Nghĩa xuất xử đẹp xinh thiên tải

Tiến vi quan, thối lại vi sư 

Một phen giúp nước phò vua

Tấc trung nguyện giữ chẳng dua nịnh thần

 

Bảy mươi trường dấn thân hoạn lộ

Đợi một lần dân sớ trừ gian

Chẳng làm xong việc phải làm

Thôi thì trao ấn từ quan trở về

 

Thối vi sư chữ đề muôn thuở

Dốc một lòng dạy dỗ môn sinh (600)

Thong dong cửa Khổng sân Trình*

Trồng người chi quản công trình mười năm

 

Đức Phu Tử tỏa giăng chốn chốn

Bao tinh anh lương đống* một thời

Cũng từ một cánh tay người

Mà un mà đúc nơi đời gấm hoa

*Cửa Khổng sân Trìnhlà nói đến hai bậc thầy nổi tiếng trong mối quan hệ với học trò của họ. Thầy và trò là tiêu biểu cho nhà trường, do đó thành ngữ cửa Khổng sân Trìnhdễ dàng được hiểu là trường học, nơi dạy đạo Nho thuở trước. Thành ngữ cửa Khổng sân Trình còn có biến thể là sân Trình cửa Khổng.

*Lương đống: rường và cột: ví người có tài, giữ trọng trách trong bộ máy nhà nước phong kiến.

 

Những danh sĩ như là Giáp Hải

Phùng Khắc Khoan danh thơm còn mãi

Nguyên nhà trước tác văn chương

Truyền Kỳ Mạn Lục lưu phương văn đàn (610)

 

Lại còn những Hàn Giang phu tử

Tiến sĩ Trương thời cử vân vân…

Thảy là những bậc văn nhân

Hoặc là danh tướng mười phân vẹn mười

 

Thuở công đức từ người một thuở

Phát huy nguyên khí của nước nhà

Đôi vai gánh vác Sơn Hà

Một là con hiếuhai là tôi trung

 

Lại nói nghĩa chữ trungcủa Trạng

Chữ trungnày thật đáng “Minh Trung”(620)

Trung là trung giữa tấm lòng

Trung cùng đất, hiếu cùng nước mẹ cha

Thuận giữa anh em trong nhà

Hòa trong chồng vợ, tìm ra bạn bè

 

Một lòng ngang chẳng hề nghiêng lệch

Ấy chữ trung tuyệt đích trên đời

Chữ trungở giữa lòng người

Chữ Trungmãi thực hiện nơi Trạng Trình

 

Nay thử dẫn điển hình đôi việc

Nói lên tâm trung liệt của người (630)

Một là câu nói “để đời”

Hoành Sơn Nhất Đái vạn đời dung thân

 

Lời dạy bảo vô ngần minh triết

Mở đường cho nước Việt thăng hoa

Một là tránh cảnh nồi da

Mạc, Lê, Trịnh, Nguyễn gà nhà đá nhau

 

Hai là mở đường vào Thuận Hóa

Cho khai nguyên nghiệp cả Nguyễn Hoàng

Tiền đề muôn dặm xênh xang

Để cho Tổ Quốc ngày càng đẹp xinh (640)

 

Thăng Long thành địa linh nhân kiệt

Kể bao nhiêu cho hết nhân hiền

Ngoài Nguyễn Trãi, Ngô Sĩ Liên

Cũng như ngoài Nguyễn Bỉnh Khiêm hãy còn

 

Bao nhiêu bậc giả môn ấn loát

Hoặc giả môn toán pháp như là

Ông Lương Như Hộc thám hoa

Thế Vinh, Vũ Hữu … tài ba một thời*

 

*Ngô Sĩ Liênlà nhà sử học thời hậu Lê, sống vào thế kỷ 15. Ông là người có công lớn trong việc biên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư- bộ quốc sử chính thống cũ nhất của Việt Nam mà còn được lưu truyền tới ngày nay.

Ngô Sĩ Liên người làng Chúc Lý, huyện Chương Đức (nay thuộc thị trấn Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội) Về năm sinh và năm mất của ông, hiện nay vẫn chưa được biết thật đích xác, nhưng theo sách Đại Việt lịch triều đăng khoa lục thì ông thọ tới 98 tuổi.

Đã tòng địa linh rồi dõng xuất

Theo minh quânra giúp nước nhà (650)

Cho đời như gấm thêm hoa

Thăng Long một thuở mượt mà phong tư

 

Đã nhắc đến công phu văn hóa

Làm sao quên công cả Thế Vinh

Một nhà nghiên cứu tài danh

Về nền kịch nghiệp đẹp xinh nước nhà

 

Hý Phường Phả Lụclà tên sách

Sử tuồng chèo ca kịch Văn Lang

Ghi bao tiếng ngọc lời vàng

Câu thơ Âu Lạc cung đàn Hùng Vương(660)

 

Thể hiện nét quốc hồn quốc túy

Chở chuyên bao tục mỹ phong thuần

Công trình nghiên cứu tiên phong

Vẽ nên kịch nghệ truyền thông nước nhà

 

*Lương Như Hộc: theo Khâm định Việt sử Thông giám cương mục và Đại Việt sử ký toàn thư, ông sinh 1420- 1501, tự Tường Phủ, hiệu Hồng Châu, là danh sĩ, quan nhà Hậu Lê. Ông là người hai lần làm sứ giả sang Trung Quốcvà đã có công truyền lại nghề khắc bản gỗ incho dân làng Liễu Tràng, Hồng Lục và được tôn xưng là "ông tổ nghề khắc ván in".

Lương Như Hộc quê ở xã Hồng Liễu, huyện Trường Tân (nay là thôn Thanh Liễu, xã Tân Hưng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương). Ông đỗ thám hoakhoa Nhâm Tuấtniên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442- đời Lê Thái Tông), cùng khoa với Nguyễn Trực, Nguyễn Như ĐổNgô Sĩ Liên.

*Lương Thế Vinh, tên chữ Cảnh Nghị, tên hiệu Thụy Hiên; 14421496) là một nhà toán học, Phật học, nhà thơngười Việt. Ông đỗ trạng nguyêndưới triều Lê Thánh Tôngvà làm quan tại viện Hàn Lâm. Ông là một trong 28 nhà thơ của hội Tao Đàndo vua Lê Thánh Tông lập Lương Thế Vinh sinh ra tại làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, trấn Sơn Nam Hạ (nay là thôn Cao Phương, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định). Từ nhỏ Lương Thế Vinh đã nổi tiếng về khả năng học mau thuộc, nhanh hiểu, và khả năng sáng tạo trong các trò chơi như đá bóng, thả diều, câu cá, bẫy chim. năm 1495.

 

*Vũ Hữu(14371530) là một nhà toán họcngười Việt, và cũng là một danh thần dưới triều đại Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông. Ông còn được coi là nhà toán học đầu tiên của Việt Nam.

Ông người làng Mộ Trạch, tổng Thì Cử, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương, nay là làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Năm Quang Thuận thứ 4 đời vua Lê Thánh Tông (Quý Mùi 1463), ông đỗ Hoàng giáp.

Lại bên cạnh là nhà kiến trúc

Đã lừng danh tài đức đế đô

Ấy là cụ Vũ Như Tô

Đã ra công dựng bên bờ Hồ Tây

 

Một tòa Cửu Trùng Đài trăm nóc

Với nguy nga bệ ngọc thềm vàng (670)

Góp thêm vẻ đẹp huy hoàng

Cho nền văn hiến Văn Lang đại hùng

 

Nói tóm lại Thăng Long đô hội

Trải bao phen vật đổi sao dời

Một thời lại có bao người

Đem tim óc điểm tô đời đẹp thêm

 

Ngoài những áng thơ Thiền đời Lý

Phản ảnh Từ, Bi, Hỉ, Xảtâm

Tiếp theo những áng thơ Trần

Lại thêm Hịch Tướng Sĩthần khí linh (680)

 

Lại thêm Đại Cáo Bình Ngônọ

Áng hùng văn thiên cổ Triều Lê

Phụng Hành xuân sắc phú” kia

Nguyễn Giản Thanh* bút tiền đề Thăng Long

*Nguyễn Giản Thanhthường được gọi là Trạng Me; 1482–?) là trạng nguyênkhoa thi Đoan Khánh năm thứ tư (1508), đời vua Lê Uy Mục. Ông là con của tiến sĩNguyễn Giản Liêm, người làng Ông Mặc (tục gọi là làng Me) huyện Đông Ngàn (nay là Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh.

Ông làm quan đến chức Hàn lâm viện Thị thư kiêm Đông các Đại học sĩ. Sau đó, lại ra làm quan với nhà Mạcvà được cử đi sứ sang nhà Minhđể cầu phong cho Mạc Đăng Dung. Khi trở về, ông được thăng Thượng thư Bộ Lễkiêm Hàn lâm viện Thị độc, Chưởng viện sự, tước Trung Phụ bá. Khi mất được tặng tước hầu. Thân phụ của ông là tiến sĩ Nguyễn Giản Liêm(1453-?).

Đặng Trần Côn* khúc ngâm chinh phụ

Đẹp ngời ngời từng chữ Hán văn

Lại thêm bản dịch quốc âm

Song thất lục bát điệu vần thanh bai

 

Nguyễn Gia Thiều* láng lai cung oán

Cung oán ngâm khúc” thảm sầu thay (690)

Kiếp người trăm đắng ngàn cay

Phận hồng nhan hỏi ai đây đoạn trường

 

Thơ quốc ngữ đẹp hồn Lạc Việt

Bốn nghìn năm thống thiết lời quyên

Tiếng kêu đau xé buồng tim

Trăm châu nghìn ngọc triền miên lệ đời

 

Hồ Xuân Hương tiếng lời long nữ

Phận má hồng, trí lự trượng phu

Giá mình đổi được phận ưu

Sự anh hùng hà tạc thì bấy nhiêu (700)

 

Cuộc tương quan có chiều khốc liệt

Giữa nam hào nữ kiệt xưa nay

Đàn bà dễ có mấy tay

Đời xưa mấy mặt đời này mấy gang

 

*Nguyễn Gia Thiều, tức Ôn Như Hầulà một nhà thơthời Lê Hiển Tông. Ông là tác giả Cung oán ngâm khúc, tác phẩm nổi tiếng của văn học Việt Nam.

Ông sinh ngày 5 tháng 2 năm Tân Dậu, tức ngày 22 tháng 3năm 1741, cuối thời vua Lêchúa Trịnh, ở làng Liễu Ngạn, tổng Liễu Lâm, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, xứ Kinh Bắc, nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông xuất thân trong một gia đình đại quý tộc, có nhiều người làm tướng, làm quan cho triều đình.

Ai bảo phận hồng nhan giữ việc

Trong nhà thôi: này dệt này thêu

Thân em như bọt như bèo

Mười hai bến nước, một theo- ba cùng…

 

Phận đàn bà tam tòngđã định

Tại gia thì tòng phụ, rồi khi (710)

Lấy chồng từ lúc vu quy

Sẽ tòng phu mãi đến khi giá chồng

 

Sau rốt lãnh thêm phần tòng tử

Ấy tôn ty định chữ tam tòng

Ai hay đâu phận má hồng

Đã từng phất ngọn cờ hồng đòi phen

 

Để đòi lại bình quyền nam nữ

Như đạo trời như thử âm dương

Và thơ của Hồ Xuân Hương

Chính là tiếng nói biểu dương đạo này (720)

 

Và thơ ấy đông tây dễ có

Nó là hồn riêng của phương Nam

Của con tim Việt hòa chan

Câu thơ Lạc Việt, điệu đàn Âu Cơ

 

*Đặng Trần Cônlà tác giả của Chinh phụ ngâm, kiệt tác văn học viết bằng chữ Háncủa Việt Nam.

Tiểu sử của Đặng Trần Côn cho đến nay biết được còn rất ít. Kể cả năm sinh năm mất cũng không biết chính xác. Các nhà nghiên cứu ước đoán ông sinh vào khoảng năm 1710đến 1720, mất khoảng 1745, sống vào thời vua LêChúa Trịnh.

Đặng Trần Côn quê ở làng Nhân Mục (còn gọi làng Mọc), huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông đỗ Hương cống, nhưng thi Hộithì hỏng. Sau đó làm huấn đạo trường phủ, rồi tri huyệnThanh Oai, sau thăng chức Ngự sử đài đại phu.

Nó là rồng tiên mùa hội ngộ

Tương kình như từ thuở khai nguyên

Lưỡng nghi đôi vế bình quyền

Ấy là Lý Dịch Trình Tuyềnmuôn xưa

 

Lại qua những bài thơ bất hủ

Của nàng Hồ nữ “chúa thơ Nôm”(730)

Ta còn nghe được cái hồn

Của dân tộc Việt trăm muôn tự hào

 

Đã trí tuệ lại trào phúng nữa

Nhân bản đồng một cỡ nhân văn

Vừa sáng sao vừa đẹp trăng

Long lanh vũ trụ ánh rằm Thăng Long

 

Thử nghe thử vài dòng thơ “Chị”

Qủa cau nhỏ nhỏ miếng trầu hôi

Này của Xuân Hương mới quệt rồi

Có phải duyên nhau thì thắm lại (740)

Đừng xanh như lá bạc như vôi”* (Mời Trầu)

Của Xuân Hương đã quệt rồi  

Quệt vào bản mặt của đời thế gian

Bản mặt của những chàng họ ngụy

Mãi dối người thậm chí dối mình

Quẩn quanh trong cái giả hình

Quẩn quanh trong cái vô minh lọc lừa

 

Chẳng bao giờ sống như mình thực

Cứ vật vờ trong lốt giả danh

Bởi vì thế cõi nhân sanh (750)

Mới sanh bao chuyện bất bình đảo điên

 

Cũng vì thế cho nên mới có

Những bài thơ cáo tếcõi đời

Bài thơ tiếng khóc câu cười

Hai trăm năm vẫn ngậm ngùi niềm đau

 

Hãy nghe thử nỗi sầu ưu quốc

Trong bài “Đền Trấn Quốc”như sau

Ngoài cửa hành cung cỏ dãi dầu

Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau!

Một tòa sen lạt hơi hương ngự (760)

Năm thức mây phong nếp áo chầu

Sóng lớp phế hưng coi vẫn rộn

Chuông hồi kim cổ lắng càng mau

Người xưa cảnh cũ đâu đâu tá?  

Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu” 

Niềm cố quốc nghĩ mà đau

Hơi hương ngự lạt áo chầu mây phong

 

Ôi cả một tấm lòng đau đáu

Xót kinh đô yêu dấu điêu tàn

Phế hưng lớp sóng rộn ràng (770)

Chuông hời kim cổ lắng càng thê lương

Trước nỗi nước tan thương như thế

Nghĩ vô duyên mấy kẻ vô nghì!

Tây Hồ nhớ bạn cố tri  

Câu thơ tâm sự nữ nhi ai hoài

Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa

Người đồng châu trước biết bao giờ

Nhật Tân đê lở nhưng còn lối

Trấn Bắc rêu phong vẫn ngấn thờ

Nọ vực Trâu Vàng trăng lạt bóng (780)

Kìa non Phượng Đất khói tuôn mờ

Hồ kia thăm thẳm sâu dường mấy

So dạ hoài nhân chửa dễ vừa”* (Chơi Cảnh Tây Hồ Nhớ Bạn- Hồ Xuân Hương)

Cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa

Người đồng châu trước, bây giờ nơi đâu

Nhật Tân, Trấn Bắc một thời

Trâu Vàng vực nọ trăng suông

Non kia Phượng Đất khói tuôn mịt trời

 

Ra vận nước với thơ tương ánh

Nước non buồn thơ chạnh sầu theo (790)

Hồ Tây một vận cô liêu

Ngàn năm còn vọng tương tiêu quan hà

 

Sao đẹp thế bài ca nhân tính

Những bài ca vịnh tính con người

Những vần thơ đẹp tuyệt vời

Là vì tiếng khóc nụ cười nhân sinh

Lại nghe thử lời kinh nhân bản

Qua bài thơ Thiếu Nữ Ngủ Ngày”(Hồ Xuân Hương)

Mùa hè hây hẩy gió Nồm đông

Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng (800)

Lược trúc lỏng cài trên mái tóc

Yếm đào trễ xuống dưới nương long

Đôi gò hồng đào sương còn ngậm

Một lạch đào nguyên suối chửa thông

Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt

Đi thì cũng dở, ở không xong

Sao bài thơ đẹp thế này

Sao đời đẹp đến thế này ai ơi!

 

Thăng Long với những tờ thơ đẹp

Của hồn thơ diễm tuyệt Xuân Hương (810)

Điểm hồng cho nếp thiên chương

Của dân Việt lấy tình thương làm đầu

 

Lấy nhân tình làm câu vi bản

Ấy Như Lai Tạngcủa con người

Câu thơ “Long Nữ” tuyệt vời

Lời tuyên ngôn của lứa đôi bình quyền

Bên cạnh nàng thơ tiên cõi tục

Còn một nhà thơ thật … thiên thu

Nhà thơ tên gọi Ngyễn Du

Nổi danh hàn mặc Tố Như -Tiên Điền (820)

 

Nhà thơ đã viết nên lịch sử

Của tinh hoa ngôn ngữ Văn Lang

Đã làm nên chuyện phi thường

Là sáng tác một Đoạn Trường Tân Thanh

 

Đem ngôn ngữ mong manh Âu Lạc

Với điệu vần Lục Bát đơn sơ

Mà chuyên chở cả trời thơ

Của ngôn ngữ Hán vỗ bờ trùng dương

 

Hoàn thành cả một chương kiệt tác

Chở chuyên tròn diệu pháp Tâm Linh(830)

Lại tròn kịch bản nhân sinh

Với bao hạt lệ long lanh nụ cười

 

Ngoài áng thơ Nôm ngoài bút tuệ

Lại còn bao tuyệt thế cảo thơm

Viết bằng Hán tự tinh tươm

So ra Lý, Đỗ dễ hơn được vần

 

Một là tập “Nam Trung Thi Tập

Hai: “Bắc Hành Tạp Lục” nguy nga

Với thi tập đầu tiên là

Thanh Hiên Thi Tập” đậm đà tình quê (840)

 

 

 

Trong những áng thơ kia đặc biệt

Có ba bài thơ đẹp vô song

Vẽ vời nét họa Thăng Long

Khi Thăng Long đã chìm trong bóng chiều

 

Người gảy đàn ở thành Thăng Long

Người đẹp ở thành Thăng Long

Họ tên gì không rõ

Chỉ biết hay dạo khúc Nguyệt cầm

Nên lấy chữ cầm làm tên họ

Có lần học được khúc tương phùng trong (850)

cung vua triều trước

Đó là một khúc đàn hay tuyệt

Như từ cung trời đưa xuống cõi trần gian

Tôi nhớ lúc trẻ đã từng được gặp nàng

Bên hồ Giám trong dạ yến

Lúc ấy nàng còn trẻ tuổi chừng hai mươi

Áo màu hồng nàng mặc cũng như bi nhạc

Đi trước sắc mặc hồ đào

Má hồng vì men rượu dáng thơ ngây, vẻ yêu kiều

Nam cung réo rắt theo ngón tay đàn

Tiếng khoan như gió thổi thông ngàn (860)

Trong như đôi hạc

Tiếng gào giữa lúc đêm khuya

Tiếng mạnh như tiếng sét đánh tan bia

Tiếng buồn như Trang Tịch lúc ốm đau

Ngâm thơ tiếng Việt

Người nghe tiếng đàn này, mê mệt

Ấy khúc nhạc trong đại điện-Trung Hòa

Các quan Tây Sơn trong tiệc thảy sa đà

Suốt đêm vui chơi nào biết chán

Phía tả phía hữu đua nhau ném thưởng (870)

Tiền bạc xem ra như đất bùn vung tứ tán

Ý chí hào hoa lấn lướt bậc vương hầu

Bọn thiếu niên đất Ngũ Lăng này đâu đáng lễ

Tưởng đem ba mươi sáu cung xuân 

Tạo thành một báu vật vô giá của Thăng Long

Tiệc ấy nhớ lại đã hai mươi năm

Sau khi Tây Sơn bại vong, tôi dời vào Nam

Long thành gang tấc, không được lấy lại

Huống gì cuộc ca vũ trong thành

Quan Tuyên Phủ vì tôi lại bày tiệc mua vui (880)

Trong tiệc các cô đào thảy đều son trẻ

Riêng ở cuối chiếu có một người tóc đã hoa râm

Nét mặt vẻ vàng thân hình nhỏ bé

Nhan sắc tàn tạ, mặt không trang điểm

Ai hay rằng đó là, chính là người tài danh bậc nhất kinh thành ngày xưa

Khúc xưa giọng nói não nùng

Tôi lắng nghe lòng đau xót

Chợt nhớ lại hai mươi năm trước

Từng gặp nàng trong hồ Giám

Thành quách đổi dời, việc người đã khác (890)

Nương dâu thành bãi biển

Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu tan hết cả rồi

Chỉ còn xót mỗi một người ca múa

Trăm năm như chớp mắt, việc cũ lệ thấm áo

Tôi từ Nam Hà về đầu bạc trắng hết

Chẳng trách nhan sắc người đẹp tàn phai

Đôi mắt mở trừng trừng luống tưởng chuyện ngày xưa

Thương thay giáp mặt mà chẳng nhận ra nhau”*

Người đẹp ở chốn kinh thành

Nguyễn cầm một khúc tài danh một thời (900)

 

Chẳng ai rõ họ tên người đẹp

Nghe đàn hay nên ghét cô cầm!

Khúc kia: cung phụng triều trung

Nghe như từ chốn thiên cung thoảng về

 

Nhớ thuở trẻ từng khi gặp gỡ

Bên Giám Hồ, trong dạ yến vui

Thuở nàng tuổi mới đôi mươi

Áo hồng nhạt trước vẻ tươi má đào

 

Năm cung réo rắt bao tình cảm

Yến khoan như gió thoảng rừng thông (910)

Trong như tiếng hạc trên không

Mạnh như tiếng sét hãi hùng tan bia

 

*Long Thành Cầm Giả Ca(Bài ca về người gảy đàn đất Long Thành)

Đây là bài thơ duy nhất, Nguyễn Du nhắc đến nhà Tây Sơn. Và qua hình ảnh  “cả cái cơ nghiệp vĩ đại… chỉ còn lại có mỗi một cô ca sĩ già”, nhà thơ đã đau lòng để nước mắt rơi ướt áo...
Long thành cầm giả ca  do thi hào Nguyễn Du (1765–1820) sáng tác trong khoảng thời gian đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc) vào năm 1813 đến năm 1914. Bài thơ này cùng với Truyện Kiều, Điếu La Thành ca giả, Độc Tiểu Thanh kí...được giới chuyên môn đánh giá là những thi phẩm bộc lộ rõ nét nỗi thương xót chân thành của tác giả về những kiếp người bất hạnh, nhất là những phụ nữ khổ đau, bị vùi dập trong xã hội thời phong kiến của Việt Nam.
 

 

Nguồn như Trang Tích* kia nhân buổi

Lâm bệnh, sầu, ngâm ngợi Việt thi

Mọi người nghe thảy mê ly

Khúc Trung Hòa giữa canh khuya não nùng

 

Khách Tây Sơn anh hùng mã thượng

Thảy đua nhau ném thưởng kim ngân

Khác chi ném đất thảy bùn

Ý hào hoa nọ rõ hơn vương hầu (920)

 

Tuổi trẻ Ngũ Lăngnào dám sánh

Tưởng chừng đem băm sáu xuân cung

Tạo thành báu vật vô song

Của kinh đô Việt tập trung một người

 

Tính lại đã hai mươi năm chẵn

Cơ nghiệp Tây Sơn lắm bẽ bàng

Tôi từ cất bước vào Nam

Thăng Long xưa những tấc gang nghìn trùng

 

Huống chi yến hội từng tham dự

Bấy giờ Quan Tuyên Phủ vì tôi (930)

Lại bày dạ yến vui chơi

Trong dạ yến, giữa bao người đẹp xinh

*Trang Tích: sống ở thời Xuân Thu, Trung Quốc. Ông là người nước Việt, làm quan nước Sở. Khi ông ốm, Sở Vương hỏi cận thần: "Tích là kẻ tầm thường ở đất Việt, nay làm quan nước Sở, được phú quý rồi, thì còn nhớ nước Việt nữa không?". Viên thị ngự đáp: "Phàm người ta có nhớ nước cũ hay không, thường tỏ ra trong lúc đau ốm. Nếu lúc này ông ta nói tiếng Việt tức là nhớ nước Việt, bằng không thì nói tiếng nước Sở". Sở Vương sai người lén nghe thì thấy Trang Tích nói tiếng Việt. Dẫn tích này để ám chỉ người không quên quê hương, đất nước.
 

Chợt hiện một bóng hình tiều tụy

Hỏi, hóa ra nàng kỹ nữ xưa  

Một thời nhan sắc cung vua

Bây giờ hoa thải hương thừa – xót xa

 

Cất tiếng hát khúc ca ngày trước

Giọng ca buồn đẫm nước mắt ai

Hai mươi năm cuộc đổi dời

Tây Sơn giữ nghiệp một thời tiêu tan (940)

 

Mỗi còn lại bóng nàng kỹ nữ

Tóc hoa râm diễm xứ phai tàn

Tôi từ lưu lạc phương Nam

Tóc mình bạc trắng, huống nhan sắc người

 

Mặt nhìn mặt đôi ngươi mở lớn

Thấy nhau nào mường tượng quen nhau

Bài thơ: cung bậc đớn đau

Chứa chan bãi biển nương dâu phận người

 

Thăng Long có khúc nôi nào nhỉ

Hơn khúc nôi thủ thỉ khúc này (950)

Những bùi những ngọt ai hay

Những cay những đắng vơi đầy tân thanh

 

*Ngũ Lăng: một vùng đất ngoại ô phía tây kinh thành Trường An (Trung quốc), ở đó có năm lăng mộ của năm vua nhà Hán. Về sau nơi này, quan lại, quí tộc cấp cao và dân hào hoa phú quý thường ở. Ngũ lăng thiếu niên, chỉ những con nhà quyền quý, giàu sang. Bài ''Tì Bà Hành'' của Bạch Cư Dị có câu: ''Ngũ Lăng niên thiếu tranh triền đầu''.
 

Hãy nghe thử Long Thành khúc nữa

Mà thấm sau nỗi nhớ mênh mông

Tản Lĩnh, Lô Giang tuế tuế đồng

Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long

Thiên niên cự thất thành quan đạo

Nhất phiến Tân Thành một cố cung

Tương thức mỹ nhân khan bão tử

Đồng du hiệp thiếu tẫn thành ông (960)

Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy

Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung”* Thăng Long Nhị Phủ 1

 

Sông Lô núi Tản vững đồng

Bạc đầu thấy lại Thăng Long thuở giờ

Tòa thành mới xóa cung vua

Nhà xưa lại hóa bây giờ đường đi

Gái xưa đã luống xuân thì

Trai xưa đã hóa ông kia cụ này

Năm canh trần tục rạng ngày

Thêm chi tiếng sáo vơi đầy tiếng trăng (970)

 

Lại nghe thử Thăng Long khúc cuối

Chở nỗi buồn vời vợi tân thanh

Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành

Do thị Thăng Long cựu đế kinh 

Cù hạng tứ khai mê cựu tích

Quản huyền nhất biến tạp tân thanh

Thiên niên phú quý cung tranh đoạt

Tảo tuế thân bằng bán tử sinh

Thế sự phù trầm hưu thán tức

Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh”(980)* Thăng Long Nhị Phủ 2

 

Mảnh trăng xưa chiếu tòa thành miếu

Kinh kì xưa đô hội Thăng Long

Ngỡ ngàng đường xá Tây Đông

Tiếng đàn xưa cũng thay cung bậc rồi

Lợi danh đoạt bá tranh nồi

Thân bằng quyến thuộc mấy người còn lưu

Thôi đừng thở nắng than mưa

Tóc mình đã bạc phơphơ mái đầu

 

Ba bài thơ, ba tờ huyết lệ

Truy niệm về dân bể Thăng Long (990)

Của hồn thơ của núi sông

Ba trăm năm tiếng tơ đồng Tố Như

 

Một sự nghiệp thi thư hùng tráng

Ba tập thơ chữ Hán tính ra 

Hai trăm tuyệt tác lẻ ba

Mỗi bài thơ một đóa hoa thịnh đường

 

Lại thêm những Hán Nôm thi nữa

Những ngàn câu tuyệt cú Quốc Âm

Và đều nhập hóa xuất thần

Ấy là tuyệt tác phẩm Kim Vân Kiều (1000)

Tập truyện của tình yêu vĩ đại

Chở vuông tròn phong thái Việt Nam

Những gì thuần hậu đoan trang

Những gì uy dũng hiên ngang tự hào

 

Những gì vợi vợi cao như núi

Những gì thăm thẳm suối đến sông

Những gì tình mẹ biển Đông

Những gì hiếu cảm mênh mông chín tầng

 

Những gì thể như vầng trăng nọ

Soi muôn đời dạ đó lòng đây (1010)

Những gì Nam Bắc Đông Tây

Mượn chuyện xưa nói chuyện nay. Những gì?

 

Mượn chuyện đời Minh kia Gia Tĩnh

Để nói lên tròn trĩnh cõi mình

Chuyện trung, chuyện hiếu, chuyện tình

Chuyện Mai, chuyện Nguyệt, chuyện Quỳnh, chuyện Dao

 

Tóm lại chuyện tự hào dân tộc

Chuyện trong ngần viên ngọc thiên lương

Mà từ đời Tổ Hùng Vương

Mà từ vạn cổ tâm hồn Việt Nam (1020)

 

 

 

Ôi ! Truyện Kiều cung đàn nước Việt

Hỏi làm sao cho xiết tình yêu

Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

Nhớ mây Hồng Lĩnh nhớ triều Lam Giang

 

Tóm lại chuyện Tràng An nước Việt

Chuyện kinh đô thân thiết nghìn năm

Chuyện từ trang sử trầm thăng

Để rồi rốt cuộc trăng rằm lên ngôi

 

Từng bước một bước đời thăng tiến

Tiến theo đời là tiếng nước tôi (1030)

Tiếng còn nước hẳn còn thôi

Truyện Kiều còn đó: mẹ ơi! Nước còn

 

Kể từ thuở xây non dựng bể

Bốn nghìn năm xiết kể gian lao

Non cao ai đắp nên cao

Sông sâu ai bới ai đào mà sâu

 

Thăng Long thành tình sâu nghĩa nặng

Trãi nghìn năm trăm nắng nghìn mưa

Nước thì có buổi không Vua

Thăng Long thành cũ mãi lưu đức Rồng(1040)

 

 

 

Ấy là đức của Hồng của Lạc

Của Âu Cơ của Lạc Long Quân

Của từng người Việt nguyên châu

Tự thân đã sẵn nghĩa sâu nghìn trùng

 

Đã sẵn khối tình chung nguyên hạo

Những điều mà Tam Giáo phân phô

Nào là Phật Tánh như như

Nào là bản thiện chi sơnào là …

 

Bao ngôn ngữ người ta lập thuyết

Hóa ra trong chất Việt sẵn rồi (1050)

Thăng Long từ thuở nằm nôi

Đã mang mang cả một thời thiên căn

 

Nhân, trí, dũng thiên năng tự hữu

Đợi cơ duyên thành tựu kim cương

Thăng Long RồngViệt cao vươn

Ấy là thể hiện thiên lương Lạc Hồng

 

Những bước chân song song như thế

Chân Phướcbên chân Tuệsong hành

Đôi chân nhịp bước trời xanh

Bước tiên vời bước Rồngthành tựu nhau (1060)

 

 

 

Bước trước dẫn bước sau song bước

Bước người đi trước vượt Trường Sơn

Bước sau mở cõi tâm hồn

Đỉnh cao hồn Việt đoạn trường tân thanh

 

Ấy là bước thơ xanh vũ trụ

Chở chuyên tròn cẩm tú quê hương

Chở chuyên tròn nghĩa thiên lương

Nghĩa Từ Bi Hỉ Xảthường lạc Tâm

 

Ấy những bước thậm thâm vi diệu

Từ Thăng Long cổ chiếu nghìn năm (1070)

Trải nghìn trang sử trầm thăng

Giờ đây tiếng mẹ trăng rằm lên ngôi

 

Nước có Hồn nước thời nên nước

Người có Hồn mới được nên người

Bốn ngàn năm tiếng ru hời

Thăng hoa hồn nước rạng ngời Thăng Long

 

Từ thuở Kiều tròn trăng tiếng mẹ

Đến nay hai thế kỷ tròn qua

Để hồn nước mãi thăng hoa

Dệt nên khúc Đại Hùng ca muôn đời(1080)

 

Hoàn thành ngày 29 tháng 10 năm 2009

(Nhằm ngày 12 tháng 09 năm Kỷ Sửu)

 

Toàn bộ lợi nhuận của công ty cổ phần Đại Nam không chia cho cổ đông. Lợi nhuận sau khi tái đầu tư, công ty sẽ dành 100% lợi nhuận còn lại cho quỹ từ thiện Hằng Hữu hoạt động vì cộng đồng, đặc biệt là chương trình mổ tim dành cho trẻ em