Lời Nói Đầu của Luật - Nghiệp Kinh Doanh

Lời Nói Đầu của Luật - Nghiệp Kinh Doanh

LỜI NÓI ĐẦU

Người ta gọi Kinh Dịch là kỳ thư.

Điều thứ nhất có thể là vì vậy, mãi đến nay, sau những ngàn năm không có ai chứng minh thuyết phục rằng nó được sáng tác ra từ thời nào, cũng như tác giả của nó là ai.

Điều khẳng định là Kinh Dịch không thể rời khỏi Bát Quái, có Bát Quái mới có Kinh Dịch, có Kinh Dịch mới có Bát Quái. Mà Bát Quái do ai tạo ra, nó có mặt vào thời nào thì đến nay vẫn còn là một bí mật.

Chỉ biết rằng, trên những giáp cốt và cả trên những đồ đồng đời Thương người ta không tìm thấy Bát Quái. Điều đó chứng tỏ rằng từ đời Thương trở về trước, là chưa có Bát Quái mà chưa có Bát Quái nghĩa là chưa có Kinh Dịch.

Vậy chỉ có thể khẳng định rằng Bát Quái cũng như Kinh Dịch, phải có sau đời Thương.

Vào đời Thương, người ta chỉ mới biết bói bằng yếm rùa; người thời ấy dùng mũi nhọn đâm vào những chỗ lõm của yếm rùa rồi hơ trên lửa cho những chỗ ấy nứt ra, và tùy vết nứt có hình dạng ra sao mà đoán quẻ tốt xấu.

i

Cuối đời Ân qua đời Chu người ta mới tìm ra được cách bói bằng cơ thi, cách bói ấy gọi là Phệ rồi dùng Bát Quái để mà đoán, giản dị hơn cách bói bằng yếm rùa. Vì vậy người ta gọi cách bói này là Dị, bởi lẽ nó dễ thực hiện hơn bằng yếm rùa nhiều. Mà Dị và Dịch là một chữ, có thể đọc là Dị hay là Dịch cũng đều được.

Theo Dư Vĩnh Lương Bát Quái chỉ có thể xuất hiện vào đời Ân, từ cuối đời Thương đến đầu đời Chu và lúc đó công dụng của Bát Quái chỉ là để bói chứ không mang thêm ý nghĩa khác như về sau này.

Tóm lại, về mặt “Thời nào” thì chúng ta có thể tạm cho rằng Dịch chỉ có trước đời Văn Vương nhà Chu (thế kỷ XII trước Tây Lịch). Còn về mặt “Do ai” thì như trên đã nói, thật rất khó xác định.

Theo truyền thuyết thì Vua Phục Hy là tác giả của Bát Quái. Có điều không hiểu Phục Hy có mặt vào thế kỷ nào, có sách nói thế kỷ 43 có sách nói là thế kỷ 34 trước Tây Lịch. Vẫn theo truyền thuyết ông làm Vua được 115 năm truyền được 15 đời. Lại nữa, về mặt nguyên ủy tạo tác cũng có các thuyết khác nhau.

Một thuyết cho rằng: ở Sông Hà hiện ra bức đồ, ở Sông Lạc hiện ra trang chữ, Thánh nhân phỏng theo (Hà xuất Đồ, Lạc xuất Thư, Thánh nhân tắc Chi).

ii

Theo thuyết này thì sở dĩ Phục Hy vẽ được Bát Quái là do dựa vào Hà Đồ tương truyền thời ấy “Có một con Long Mã màu xanh lục có vằn đỏ xuất hiện trên Sông Hoàng Hà, đội một bản đồ” và Phục Hy đã dựa vào bản đồ ấy mà vẽ lên Bát Quái. Bên cạnh thuyết này lại có thuyết cho rằng ngày xưa họ Bào Hy (tức Phục Hy) cai trị thiên hạ, ngẩn lên thì xem các hình tượng trên trời cúi xuống thì xem các phép tắc dưới đất, gần thì lấy ở thân mình xa thì lấy ở vạn vật, rồi làm ra Bát Quái để thông suốt các Đức Thần Minh và điều hòa cái tình của vạn vật.

Tự thân hai thuyết đã mâu thuẫn. Âu Dương Tu, một văn hào thời Bắc Tống đã vạch ra chỗ mâu thuẫn đó. Đại ý ông bảo: Đoạn trên nói rằng Bát Quái là do trời sai Long Mã đội lên ở Hoàng Hà mà giao cho Phục Hy, không phải do người làm ra; đoạn dưới lại nói Bát Quái là do người làm, bức đồ trên Sông Hà không can dự tới. Vậy biết tin vào thuyết nào?

Tóm lại là về hai vấn đề “thời nào” và “người nào” thì sách cổ không trả lời được chính xác và bên trong chứa nhiều mâu thuẫn.

Nay ta hãy tạm gác hai vấn đề nói trên để đi vào vấn đề cốt lõi.

iii

Là chính bản thân của Bát Quái có thể nói điều kỳ diệu nhất khiến cho Bát Quái trở thành một kỳ thư kỳ lạ và kỳ diệu nhất chính là cái vạch đầu tiên, cái vạch mở đầu cho tất cả, khai nguyên cho tất cả.

Cụ thể đó là một cái vạch liền, mường tượng như một nét gạch ngang của trẻ con vạch lên cát lên đất để chơi, hoặc của người tiền sử vạch để ghi nhớ; lại cũng mường tượng như chữ Nhất (là Một trong Hán Văn vậy). Từ cái Vạch Liền này người ta cắt nó ra làm hai để có hai vạch. Thoạt tiên là Vạch Liền kế đến là Vạch Đứt, tượng trưng cho hai yếu tố Dương và Âm khởi nguồn cho sự hình thành vũ trụ. Hai vạch ấy là Lưỡng Nghi.

Rồi người ta lấy gạch Dương chồng lên gạch Dương, lại lấy gạch Âm chồng lên gạch Dương – để có hai hình tượng.

Lại lấy gạch Âm chồng lên gạch Âm, đoạn lại lấy gạch Dương chồng lên gạch Âm, được hai hình tượng nữa. Bốn hình tượng này gọi là Tứ Tượng.

Gồm có: Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm.

(cũng có nhiều sách cho rằng hình thứ tư là Thiếu Dương, hình thứ hai là Thiếu Âm).

iv

Bốn hình tượng nói trên tượng trưng cho Nhựt, Nguyệt, Tinh, Thân (Mặt trời, Mặt trăng, Định tinh, Hành tinh).

Sau cùng, người ta lấy Vạch Dương lần lượt chồng lên cả bốn hình đã nói trên theo thứ tự đã nói trên một, hai, ba, bốn.

Rồi lấy Vạch Âm lần lượt chồng lên cũng cả bốn hình đó, mà theo thứ tự ba, bốn, một, hai.

Rốt cuộc người ta có tám hình tượng khác nhau, gọi là tám quẻ (Bát Quái). Mỗi quẻ đều có ba gạch, gọi là ba hào hình thành từ dưới mà lên, hào dưới cùng là hào một rồi đến hào hai, hào ba…

Tám quẻ có tên như sau:

Càn (Kiền)

Khôn

Ly

Khảm

Cấn

Đoái (Đoài)

Tốn

Chấn

v

Tám quẻ nói trên, mỗi quẻ bao hàm nhiều nghĩa. Ở đây chỉ nói cái nghĩa cốt tủy nhất:

Càn vi Thiên, nghĩa là Càn là Trời có đức cứng mạnh, tượng trưng người đàn ông. Khôn vi Địa, nghĩa là Khôn là Đất, có đức nhu thuận, tượng trưng người đàn bà. Ly vi Hỏa, là lửa, sáng. Khảm vi Thủy, nghĩa là nước, hiểm trở. Cấn vi Sơn, là núi, yên tỉnh. Đoái vi Trạch, là chầm, vui vẻ. Tốn vi Phong, là gió. Chấn vi Lôi, là sấm.

Điều xảo diệu là với một gạch dương và một gạch âm mà đem chồng lên nhau theo tiêu chỉ phân phối công bằng thì chúng ta chỉ có thế tạo ra được tám quẻ (mỗi quẻ ba gạch) khác nhau  không hơn không kém. Và vì tám quẻ này có tính cách đa dạng nên không phải là dễ nhớ; nên để khắc phục, nhà Nho xưa đã đặt ra tám câu sau đây để học thuộc lòng:

Càn tam liên (ba gạch liền)

Khôn lục đoạn (sáu gạch đứt)

Chấn ngưỡng vu (bát để ngửa)

Cấn phúc uyển (chén để úp)

Khảm trung mãn (đầy ở trong)

vi

Ly trung hư (rổng ở trong)

Đoài thượng khuyết (hở bên trên)

Tốn hạ đoạn (đứt ở dưới)

Qua đoạn văn trên, chúng ta có thể thấy ý nghĩa của Bát Quái, cụ thể nhất, là để tượng trưng cho các hiện tượng trong vũ trụ, trước tiên là trời đất, kế đến là lửa nước, núi đầm, gió sấm. Với hai gạch liền và đứt, tức là với hai yếu tố âm và dương, thiên địa vạn vật đã được hình thành, điều ấy thì dễ hiểu rồi. Lại, như Càn, là Trời, thì dùng ba vạch liền để tượng trưng; Khôn, là Đất, dùng ba gạch đứt để thể hiện, xem như cũng dể hiểu rồi.

Nhưng ở các quẻ còn lại: Chấn, Cấn, Khảm, Ly, Đoài, Tốn,… thì, tại sao Cấn lại gồm hai gạch đứt ở dưới, một gạch liền ở trên; tại sao Tốn lại một gạch đứt ở dưới, rồi hai gạch liền ở trên v.v...?

Tại sao lại thế mà không phải khác? Đây quả là một điều nan tư nghị, tuy chẳng nhất thiết là bất khả tri nhưng quả là có phần nan tư nghị. Ấy chính là một câu đố nát óc rất thú vị dành cho những bạn muốn tìm hiểu “kỳ thư” vậy.

 

vii

Nhưng đề cập đến “câu đố nát óc”, chúng ta cũng cần biết thêm là không phải chỉ có mỗi sự sắp đặt gạch dương này gạch âm kia cho các quẻ là điều hiểu để trở thành câu đố nát óc. Những điểm khó hiểu trong Kinh Dịch, đặc biệt là về vấn đề các vị trí của tám quẻ.

Chúng ta biết rằng Bát Quái có tới hai bức đồ, một là Tiên Thiên Bát Quái, hai là Hậu Thiên Bát Quái.

Trong hai bức đồ này phương vị của các quẻ rất khác nhau. So sánh hai bức đồ này, chúng ta thấy vị trí của các quẻ thay đổi hết:

Hình I,  Càn ở Nam,  Khôn ở Bắc,  Ly ở Đông,   Khảm ở Tây, …,

Hình II, Càn ở Tây Bắc, Khôn ở Tây Nam, Ly ở Nam, Khảm ở Bắc, …,

Trở lại vấn đề tám quẻ, Bát Quái tuy kỳ diệu thật, nhưng nếu chỉ với tự thân 8 quẻ, gồm 24 hào của nó. Bát Quái khôn đảm đương nổi trọng trách phản ảnh sự biến dịch, giao dịch (cũng như bất dịch) của càn khôn vũ trụ. Do đó, một “thánh nhân” nào đó đã lấy trọn một quẻ chồng lên 8 quẻ; chẳng hạn lấy quẻ Càn chồng lên Càn rồi lại chồng lên luôn 7 quẻ còn lại.

 

viii

Lấy quẻ Ly chồng lên Ly và chồng lên luôn 7 quẻ kia; cứ như thế mà thành lập nên 64 quẻ mới, mỗi quẻ mới gồm 6 hào, cộng lại thành 384 hào. Có như thế mới đảm đương nổi việc phản ảnh những điều biến dịch và giao dịch trong vũ trụ vô cùng phong phú, vô cùng phức tạp này.

Trên đây là tóm tắt về Kinh Dịch.

Nay lại xét về mặt Kinh Dịch trong sự nghiệp Kinh Doanh.

Chúng ta nên biết rằng, bản thân của vũ trụ này, trong đó có cuộc nhân sinh của chúng ta, xét cho tới cùng kỳ lý, chính là một cuộc kinh doanh vậy.

Đó là một cuộc kinh doanh lớn, sự vận hành của vũ trụ. Trong đó có cuộc sống của chúng ta, so sánh với vũ trụ, thì đó là một cuộc kinh doanh nhỏ. Nhưng dù nhỏ dù lớn, mục đích của kinh doanh, cứu cánh của kinh doanh là làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn thể hiện chân thiện mỹ hơn.

 Mà muốn làm được điều đó thì phải thấu hiểu những quy luật của vũ trụ, của nhân sinh, để nương theo đó mà hành động, cho đúng chánh đạo, cho đúng mệnh trời.

ix

Tập thi kinh nhỏ này tự lãnh trách nhiệm trình bày những quy luật ấy, để trong muôn một tiếp sức cho các bạn doanh nhân đi đến thành công.

 

                                                   Cẩn bút,

                                         HUỲNH UY DŨNG

 

Viết xong Ngày Mồng Sáu Tháng Tám Năm Nhâm Thìn

(21/09/2012)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ix

<

Toàn bộ lợi nhuận của công ty cổ phần Đại Nam không chia cho cổ đông. Lợi nhuận sau khi tái đầu tư, công ty sẽ dành 100% lợi nhuận còn lại cho quỹ từ thiện Hằng Hữu hoạt động vì cộng đồng, đặc biệt là chương trình mổ tim dành cho trẻ em